Friday, July 31, 2009

Thursday, June 25, 2009

TRĂNG XƯA TRĂNG XƯA

Chị Lạng khoác lên vai chiếc khăn tắm, rón rén mở cửa. Bà Cửu đang ngồi têm trầu trên chiếc trường kỷ nói vọng ra:
- Nhớ tắm nhanh về sớm, nghe con!
Chị đáp vội :
- Dạ! Con tắm một chút rồi về liền mà mạ. ̀̀̀̀̀̀̀ Từ nhà chị Lạng ra sông chỉ non hai trăm bước. Để khăn tắm lên bụi cỏ cạnh bờ sông. Chị từ từ bước xuống bậc cấp bằng đá, xây sát cạnh bờ. Để nguyên quần áo, chị nhẹ nhàng đặt chân xuống nước, rồi đi lần ra giữa dòng. Sông Hương mùa này nước thật cạn, chỉ cao ngang ngực chị. Nước mát lạnh, chị cảm thấy thật dễ chịu. Gần cả năm nay, chị mới được tắm lại trên dòng sông quê hương của mình. Kể từ lúc thay đổi chỗ làm, đến dạy tại một vùng xa tít ở mũi Cà Mau, mỗi năm chị mới về một lần. Chị ở lại đây một hai tháng. Bà Cửu thương con, không muốn con sống xa nhà nhưng lại chiều theo ý con gái, bà không ngăn cản sự chọn lựa của con mình.
Trăng đã lên, ánh trăng mười sáu nhẹ tỏa, lung linh in bóng xuống dòng sông. Chị Lạng nghịch ngợm lấy tay khỏa nước cho trăng tan, rồi đứng thật yên lặng, hầu như bất động, chờ trăng tụ lại nơi đáy sông. Chị chợt mỉm cười thấy mình đã lập lại những động tác này ở những tháng năm xa xưa cũ.
Trăng nằm đáy nước trong veo.
Cầm chèo ta đập mấy hèo trăng tan.
Khác với thái độ cay cú của người thơ, chị Lạng yêu mặt trăng lồng đáy nước. Chị chỉ muốn trăng lung linh, diễm ảo không tan. Chị chỉ muốn ôm mảnh trăng vào lòng. Chị nín thở, ngụp xuống dòng sông để nhớ lại cảm giác xưa cùng bạn bè tuổi nhỏ lặn xuống sông tìm trăng. Chỉ vài giây sau, chị ngoi lên, mặt mũi, tóc tai sủng ướt. Vuốt mớ tóc dài ra sau, chị Lạng tiếp tục bơi, tiếp tục lặn ngụp, vẫy vùng trên quãng sông vắng. Dòng sông thân thương đã cho chị quá nhiều kỷ niệm của tuổi ấu thơ, cuả tuổi trưởng thành. Nhớ những buổi chiều, sau giờ tan học, cả bọn trai gái trên mười đứa, rủ nhau ra bến sông bơi lội. Cái thưở chưa biết mắc cở, còn tồng ngồng nghịch nước, tạt nước vào nhau rồi cười đùa vang cả khúc sông. Lớn hơn một chút đã biết e thẹn, cũng cùng nhau đi tắm sông nhưng bọn con gái đều mặc cả áo quần xuống nước. Dù vậy, cái phá phách, nghịch ngợm chỉ tăng chứ không giảm. Giờ thì, mỗi người một nơi. Sơn và Thắm sau đám cưới đã dọn vào Lâm Đồng lập nghiệp. Thành và Vinh, đi lính, tử trận ở hạ Lào. Một số bạn sau Mậu Thân đã bỏ Huế ra đi không về nữa. Trong nhóm bạn xưa chỉ có mình Thủy là còn ở đây, sống đạm bạc với mẹ già, nguồn thu nhập chính của hai mẹ con là mảnh vườn trồng cây ăn trái. Vườn nhà Thuỷ có thật nhiều thanh trà. Thanh trà nhà chị ngon nhất xóm, trái ngọt lịm. Trong vườn còn có những cây mận xanh trái nhỏ, dòn và thơm, quyến rũ bọn nàng vô cùng. Bởi thế, sau mỗi lần đi tắm sông về, chị Lạng và các bạn đều ghé nhà Thủy, len lén mạ hắn hái trộm mận, trộm đào rồi chia ra mỗi đứa vài trái, mang về nhà ăn với muối ớt dằm, có bạn không ăn thì để dành hôm sau đi học mang nhem thèm với các bạn cùng lớp. Trái cây ở Kim Long ngon nổi tiếng. Kim Long không những nổi tiếng có trái cây ngon, còn nổi tiếng có nhiều gái đẹp.
Kim Long gái đẹp mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.
Những ông vua còn mê gái đẹp Kim Long nữa là! Kim Long thơ mộng trữ tình. Kim Long nằm hiền hòa bên cạnh dòng sông Hương bốn mùa nước trong xanh. Kim Long là quê hương vô cùng yêu dấu của chị. Chị Lạng cảm thấy hãnh diện được sinh ra và lớn lên ở nơi này, được nuôi lớn bằng những giếng nước ngọt ngào thanh khiết. Cây cỏ tươi xanh, nước ngọt ngào. Có lẽ vì vậy mà con gái Kim Long có nước da trắng hồng, mịn màng tươi mát, đẹp tự nhiên không son phấn. Chị Lạng yêu biết bao nhiêu nơi chốn này, nơi chị sinh ra và lớn lên, nơi cho chị biết bao nhiêu kỷ niệm. Chị yêu tiếng hò trên dòng Hương giang, những điệu hò trầm bỗng ngọt ngào thấm đượm lòng người. Chị thương tiếng chuông trong trẻo của Thiên Mụ vào những hồi kinh sáng, chiều. Chị đâu muốn xa Kim Long. Chị đâu muốn xa cố đô yêu dấu của chị. Chị nào muốn xa mạ. Rứa mà chị cũng đành đoạn ra đi. Chị đi để quên Tuấn, quên mối tình đầu đời gắn bó. Nơi đây, một gốc cây, một bụi cỏ, một con đường và...cả dòng sông mênh mông trước mặt, tất cả đầy ắp hình bóng chàng. Cậu con trai cùng học chung trường tiểu học, cùng tắm chung một dòng sông, cùng uống chung dòng nước mát, cùng chạy nhảy chơi đùa, bẻ hoa bắt bướm, cùng phá phách nghịch ngợm bên nhau. Lớn lên , hai đứa thề nguyền gắn bó. Lễ dạm ngõ cũng đã cử hành. Lễ hỏi cũng đã diễn ra. Chị Lạng đã run run xúc động khi nhận chiếc nhẫn đính hôn tự tay chàng đeo vào ngón áp út của mình. Nghĩ mình là người sung sướng nhất, hạnh phúc nhất. Vậy mà! Một buổi sáng mùa Xuân, giặc đã về bắt Tuấn ra đi biệt tăm, biệt tích. Ngày họ rút lui, chị đã gào khóc thê thảm chạy đi tìm xác chàng trong những mồ chôn tập thể. Chị Lạng đã không thể tìm ra một dấu tích nào chứng minh Tuấn có mặt trong số nạn nhân xấu số ấy. Chị nuôi hy vọng anh còn bị giam giữ ở một nơi nào đó. Chị Lạng đã đến chùa, đến miễu … cầu nguyện cho Tuấn được bình yên. Nghe nơi đâu có thầy bói giỏi, chị cũng không bỏ qua chỉ để hy vọng tìm biết tin chàng. Người cho biết chàng đã chết. Kẻ thì quả quyết Tuấn chỉ bị bắt giam và sẽ được trở về một ngày gần đây. Chị Lạng đợi chờ trong hy vọng. Năm bảy mươi lăm, ngày miền nam Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay cộng sản. Chị Lạng lại khấp khởi hy vọng Tuấn sẽ trở về sau những tháng năm bị bên kia giam giữ. Nhưng thật hoài công, như “ bóng chim tăm cá ’’ Tuấn của chị đã vĩnh viễn không trở về. Quá thất vọng đau buồn, chị Lạng quyết định bỏ Huế ra đi. Chị xin thuyên chuyển về tận một vùng cuối Việt.
Những dòng suy nghĩ cuốn hút chị trở về với dĩ vãng đau buồn mà chị Lạng đã chôn chặt tự đáy lòng. Chị Lạng uể oải trở về nhà, ra sau chiếc bể cạn. Chị múc nước xối lại toàn thân. Nước mát lạnh làm chị thấy dễ chịu hơn. Lặng lẽ vào nhà thay quần áo. Chi ̣Lạng để nguyên cả tóc còn chưa khô lắm, thả mình xuống chiếc giường quen thuộc. Chị sung sướng hít mùi thơm của drap, mền mới giặt. Bà Cửu biết con sắp về đã thuê người đến giặt giũ, lau chùi căn phòng của chị. Chị Lạng chợt thấy thương mạ vô cùng. Mạ lúc nào cũng thương yêu, chiều chuộng nàng. Vậy mà chị đành đoạn bỏ mạ ra đi. Sau ngày chị Lạng đi, bà ở với đứa cháu gái gọi bằng cô. Tháng trước đây, cô
cháu gái đi lấy chồng, dọn ra Đà Nẵng. Bà Cửu lại ở một mình. Bà không hề đề nghị chị Lạng về đây sống với bà nhưng chị Lạng biết niềm mong ước lớn nhất của mạ lúc này là mong chị trở về. Chiều hôm qua, về đến nhà, sau lúc hàn huyên với mạ, chị Lạng chạy qua thăm Thủy ngay. Thủy chửi nàng : “ Cái con bất hiếu ni. Bao chừ mi về ở đây luôn. Liệu mà về cho sớm. Mạ đã già rồi mi nợ !” Ờ, mạ đã già đi! Lần này trở về, chị Lạng thấy mạ đã ốm hơn, tóc bạc nhiều. Mạ đã gần bảy mươi tuổi rồi còn gì. Chị Lạng tự nghĩ : “ Mình phải về thôi ” Chị cũng đã thấm mệt với sự ruỗi rong, tránh né của mình. Chị sẽ về lại đây với mạ, với Huế thân thương.
Trằn trọc không ngủ được, chị Lạng mở cửa bước ra sân. Nằm trên chiếc võng đưa cột giữa hai gốc cây sung, chị Lạng ngước mắt nhìn trời đêm. Trăng đã lên cao, ánh trăng sáng tỏ chiếu xuống khu vườn. Gió lay động những tàn cây, kẽ lá lao xao. Cây, lá, hoa lung linh mờ ảo trong đêm trăng tuyệt diệu. Ve kêu râm ran. Chúng đang tấu những tấu khúc nhịp nhàng, êm ả. Mùi hương hoa bưởi, hoa chanh trộn lẫn mùi hoa lài, hoa dạ lý ngào ngạt trong đêm. Ồ, chị Lạng còn ngửi được cả hương thơm thật đặc biệt thoang thoảng trong gió. Phải rồi, đó là hương ngọc lan. Bụi ngọc lan mà Tuấn đã đem đến tặng chị. Chị chê mùi hoa nồng quá nên bắt Tuấn trồng tận cuối vườn. sát bờ hàng rào nhà hàng xóm. Vậy mà Tuấn không giận, vẫn chiều theo ý chị. Gần hai mươi năm rồi, cây ngọc lan đã già cỗi nhưng vẫn cho hoa hàng năm. Lần theo mùi hương, chị Lạng đến tận cuối vườn. Trong ánh trăng sáng, chị Lạng thấy rõ cả những nụ hoa chi chít trên cành. Với tay ngắt một đoá ngọc lan, chị cài lên tóc. Mùi hương nồng, hơi gắt ở ngày xưa, bây giờ bỗng nhiên như dịu đi, ngọt ngào quyến rũ hơn. Chị thì thầm “ Tuấn ơi! Em đã thấy yêu mùi ngọc lan rồi đó Tuấn biết không? Em sẽ về lại đây Tuấn ạ. Sẽ thay anh chăm sóc cội ngọc lan. Sẽ mãi mãi sống nơi này. Dù không có anh bên cạnh nhưng anh mãi hiện hữu trong em. Anh là vầng trăng cao cao, bàng bạc trên kia. Anh là con sông mênh mông trước mặt nhà. Anh là hoa, lá, cỏ cây, bao quanh ngôi nhà mạ. Tuấn ơi, sáng mai này, em sẽ thưa với mạ. Sẽ nói với người: “ Mạ ơi! Con sẽ về ở luôn với mạ, với Huế dấu yêu. Con sẽ sống hết quãng đời còn lại bên mạ, bên mảnh vườn tràn đầy hương sắc của mình.’’
Chị Lạng ngước mắt nhìn lên cao, trăng vẫn vằng vặc sáng, soi rõ bóng cây đa với chú cuội. Chi Lạng chợt mỉm cười nhớ lại bài ca ở những mùa trăng tuổi nhỏ Tuấn và bọn nàng thường hát “ Thằng cuội yêu chị Hằng Nga, nói dối ông bà đi bán cà rem. Ố tang tình tang, ố tang tình tình …” Ôi ! Thiên đường tuổi nhỏ! Chị Lạng chợt nhận ra ở nơi này. Huế của chị. Kim Long yêu dấu của chị. Chị đã tìm lại tất cả những gì chị ngỡ đã đánh mất. …………..
Forget me not Dalat

Wednesday, April 29, 2009

NHỚ MẸ
Những tháng tư về, con buồn nhớ mẹ,
Tóc bạc lưng còng, bới xách nuôi con.
Mẹ nắm tay con, dặn dò nhắn nhủ :
“Ráng nghe con, mẹ sẽ đợi con về!”

Cầm tay con, bàn tay thô chai sạn.
Mẹ nghẹn ngào: “Thật tội nghiệp con tôi!
Bàn tay xưa chỉ biết cầm bút mực,
Giờ cầm búa rìu, xẻ gỗ cưa cây,
Cuốc đất trồng rau, giãi dầu mưa nắng…”

Thân con ngục tù, mẹ quặn lòng đau.
Những lần thăm nuôi, đường xa vời vợi,
Mẹ vẫn băng rừng, lội suối, trèo non.
Trại cải tạo xa, sâu trong rừng núi,
Mẹ đã không hề bỏ một lần thăm.
Tay xách vai mang, nặng trĩu thân gầy,
Gô ruốc xả , bánh thuốc rê, đường cát,
Gói nặng thâm tình, tình mẹ cho con.
Những đêm ngục tù, nước mắt con tuôn,
Những giọt nước mắt xót xa nhớ mẹ.

Sáu năm cải tạo, con về bên mẹ.
Mẹ vui, sao nước mắt mẹ tuôn trào?
Bên mẹ, đời dù nghèo nhưng ấm áp.
Tình mẹ cho con, biển rộng sông dài...

Giờ đây tha hương, xứ người dung nạp,
Con đã có đời sống mới tự do.
Chỉ thiếu mẹ, thiếu tình thương của mẹ.
Tháng tư về, con nhớ quá mẹ ơi!

Mộ mẹ, cỏ vươn cao, hương khói nhạt?
Con vẫn biệt tăm đi mãi không về.
Đất nước vẫn còn mang màu cờ đỏ
Lòng con vẫn còn đau, hận mẹ ơi
Làm sao con quên nỗi đau mất mát?
Mất mát quê hương, mất mát mẹ hiền.
Con sẽ trở về khi đất mẹ bình yên .
Màu cờ đỏ thôi tung bay trong gió.

Tháng tư đen, nhớ mẹ hiền con thắp
Một nén nhang lòng, gởi đến mẹ yêu.
Một nén nhang cho quê nghèo yêu dấu.
Mẹ của con, đất nước Việt cuả con,
Xin gởi đến Người, niềm thương bất diệt.

Forget me not Dalat

Tuesday, April 28, 2009

Tường như mơ

TƯỞNG NHƯ MƠ




Thật không thể ngờ sau ba mươi năm Phương mới nhận được tin của người yêu dấu cũ. Sau cuộc chia ly đổi đời, Phương cùng gia đình di tản qua Mỹ, lúc ấy Anh đang đóng quân ở tận Cà Mau. Ra đi mang theo nỗi đau nhức không cùng, mất mát quê hương,mất mát người yêu đầu đời với những nguyện thề gắn bó. Anh đã đến với Phương khi nàng còn là cô học trò Trung học. Cậu con trai miền lục tỉnh mê kiếp chinh nhân, bỏ sông nước Miền Nam yêu dấu lên tận quê nàng tầm sư học đạo. Đến đây lạ xứ quen “ nàng” rồi yêu thương cô gái xứ Hoa Đào . Tình yêu thật dễ thương , nhẹ nhàng như mây trời Đàlạt. Bốn năm trui rèn văn, võ. Ra trường Anh lại chọn kiếp sống hải hồ. Thuyền Anh lênh đênh trên rông rạch Miền Nam, canh giữ những miền đất thân yêu của Tổ Quốc...Lời hứa trở về đón Phương trong ngày vui pháo cưới chưa thực hiện thì Miền Nam vĩnh viễn rơi vào tay Cộng sản. Thất lạc tin Anh. Chẳng đặng đừng Phương phải bỏ đất nước ra đi. Qua Mỹ, Phương không ngừng tìm kiếm nhưng vẫn biệt tin anh. Những năm gần đây, một vài nguồn tin từ bạn bè cho biết, sau nhiều năm cải tạo anh được thả ra. Nghe nói, anh đã có gia đình, sống đâu đó ở miền Nam quê anh. Phương nghĩ mừng cho anh, dù trong lòng vẫn không nguôi thương nhớ...
Sống độc thân ở một đất nước tự do, làm việc tương đối bận rộn trong một hãng điện tử. Rảnh rỗi đi đây đó du lịch, Phương cũng nguôi ngoai nỗi buồn xưa. Vậy mà, bỗng dưng sau bao năm trời vắng bặt tin Phương nhận được một món quà đóng gói kỹ càng, đề rõ tên người gởi là Anh, người nhận đúng tên nàng. Vui buồn lẫn lộn choáng ngợp hồn Phương...
Thật khó tin làm sao! Từ phương trời xa xôi ấy,từ Đà Lạt của nàng, Anh đã gởi đến Phương một bức ảnh chụp đẹp vô cùng. Bức ảnh thật lớn. Bức ảnh có chiều dài dễ chừng ba mét. Không biết anh làm cách nào để ghép, để rửa một bức ảnh chụp dài đến vậy. Run run xé chiếc hộp anh quấn tròn trong một ống giấy, cứng chắc như ống tre đằng ngà. Phương không đủ thông minh để đoán ra món quà anh trao tặng : Gởi em “ Đà Lạt một thời để nhớ” . Mắt Phương như nhoà đi. Cảm ơn anh đã bưng một trời Đà Lạt vào trong khung ảnh, cả một rặng thông xanh bao quanh vòng bờ hồ lung linh sóng nước. Phương như nghe đâu đây bản đàn êm dịu của ngàn thông. Thông reo trên ngọn đồi của ngôi trường ngói đỏ với vòm tháp cao của một thời đi học làm cô giáo. Thông xào xạc bên ngọn đồi cù, ngọn đồi thơ mộng nhất của Đà Lạt với những kỷ niệm khó quên. Những lần cắm trại ở lại đêm đốt lửa ca hát tưng bừng của những năm Trung học. Những hôm nghỉ học chạy nhảy bắt bướm, hái hoa, lang thang đào củ dẽo, củ mưa đá. Thông gợi nhớ bước chân trần rón rén bước trên những tấm thảm lá thông. Và nhớ làm sao những hôm mượn bờ vai anh để tựa. Chân duỗi dài trên thảm cỏ xanh, tỉ mỉ bện lá thông thành những chiếc nôi xinh xinh cho búp bế . Phương làm sao có thể quên những lúc nằm dài trên cỏ nhìn nắng lao xao qua những ngọn lá thông rồi cùng chung ước nguyện, ước cho tình yêu mình dễ thương như nắng, êm ả như mây. Anh ơi, gởi chi cho Phương rừng thông xanh lá ấy, gởi chi cho Phương nền trời pha sắc tím , màu tím buồn buồn như bản tình ca anh thường hát lúc sánh bước bên Phương dạo ấy “Anh sẽ đưa em về nơi chân trời tím... gom hết mây hai đứa xây lâu đài yêu...” Và đây rồi, Thủy tạ của chúng mình vẫn còn đây, vẫn yêu kiều duyên dáng soi bóng hồ Xuân Hương. Một chiếc thuyền câu với một lão ngư có chòm râu bạc trắng như tiên lững lờ buông lưới trên hồ khi sương mờ còn vương vấn. Cảm ơn anh đã đem vào trong ống kính một Thủy tạ mờ ảo lung linh đẹp như những lâu đài trong chuyện thần thoại.. Nhớ ngày xưa anh thường bảo, anh yêu sương mờ Đàlạt, anh yêu sương mờ quấn quýt chân em. Anh cao như thông rừng. Anh mạnh bạo như gió ngàn. Chí nguyện lớn, vẫy vùng ngang dọc nhưng... Anh lại lãng mạn như thơ, như sương, như khói mây Đalạt. Có phải vì vậy mà em yêu anh, người con trai vừa dịu dàng vừa uy dũng? Anh đi đâu, anh làm gì trong thời gian dài dằng dặc ấy? Dù có vợ, có con? Em vẫn mong biết một chút về anh. Để em không còn hoài mong, hy vọng!
“ Cảm ơn anh, dù muộn màng! Em giờ đây đã biết tin anh. Ít ra cũng biết được số nhà và thành phố đang có anh. Cảm ơn anh vẫn còn hiện hữu để còn nhớ đến em..và cũng rất cảm ơn anh đã gởi cho em cả một khung trời kỷ niệm.” Phương thầm thì như đang thủ thỉ cùng anh. Nàng đưa tay vuốt nhẹ mép ảnh, sờ nhẹ trên nền giấy láng mềm mại, tưởng như đang vuốt ve thảm cỏ xanh mướt ở đồi cù năm xưa. Kỷ niệm ùa về. Niềm xúc động trào dâng. Cố giữ không để nước mắt ứa ra, sợ nhòe bức ảnh. Bức ảnh mà người xưa của nàng đã gởi vào đây biết bao yêu thương, mong nhớ. Cảm ơn anh, em sẽ giữ mãi bức ảnh bên mì̀nh và tuy xa cách em sẽ không bao giờ quên được tình anh.
Cuốn bức ảnh lại. Phương nhẹ nhàng cho vào chiếc hộp. Lúc lấy tấm ảnh ra thật dễ nhưng lúc cất vào sao khó thế này?. Hình như có cái gì vướng trong chiếc hộp gỗ!
Phương kéo bức ảnh ra. Một lá thư với phong bì màu xanh khi xưa anh thường gởi, chợt rơi xuống.
Đàlạt, ngày, tháng, năm...
Phương yêu thương của anh,
Sau những tháng năm tù đày khổ cực, được thả ra. Anh tìm về Đà Lạt. Đau xót thật nhiều khi biết em đã ra đi. Anh trốn mình trong một cốc sâu...ẩn cư, quên đời, quên thế sự...Tưởng em đã có gia đình, có niềm hạnh phúc mới... Nhưng thật không ngờ, sau bao năm vắng bóng anh lại biết tin em. Có phải chăng cả anh, cả em vẫn còn chung nỗi nhớ?
Anh của em
Ôm bức thư vào lòng. Nước mắt nhạt nhòa. Phương nghe như đâu đây ngàn thông
vi vu réo gọi từ đồi cù lộng gió, từ đỉnh Lâm Viên đến đồi Bắc lao xao, kéo dài đến những thung lũng ngút ngàn thông xanh của Đàlạt yêu dấu, lời réo gọi thật thương yêu từ bên kia quả địa cầu xa lơ lắc... Phương cứ tưởng như mơ....
Forget me not Dalat

Mơn mởn