Sunday, June 5, 2011
Tuesday, May 24, 2011
Nghìn Trùng Cát Bụi Đã Bay Xa
NGHÌN TRÙNG CÁT BỤI ĐÃ BAY XA*
( Thơ của anh Trần Văn Lương )
Chỉ trong vòng một tháng mà tôi đã mất đi hai người thân, một người chị và một người anh thân thiết , chị Đỗ Thị Tiến, anh Nguyễn Đức Quang. Thật bàng hoàng khi hay tin chị ra đi và cũng buồn thương khi biết tin anh Quang vĩnh viễn rời xa gia đình, rời xa bạn bè yêu mến. Chị Tiến, anh Quang đều là bạn của ông anh tôi. Họ quen biết nhau hồi Trung học, lên Đại học, anh Quang học chung với anh tôi ở Chính Trị Kinh Doanh. Những năm ở Đại học với lý do chính đáng có nhiều bài vở, ông anh tôi được ba mẹ cho phép ra nhà cô tôi ở lại học hành. Nhà cô cách xa nhà tôi chỉ khoảng mười phút đi bộ̣ nên thỉnh thoảng tôi ra giúp anh dọn dẹp nhà cửa. Anh tôi cũng thường về nhà ăn những món ăn ngon do mẹ nấu. Thỉnh thoảng anh dẫn vài người bạn về nhà chơi , bởi vậy tôi cũng không nhớ rõ là tôi gặp anh Quang ở nhà cô tôi hay ở nhà mình, chỉ biết là tình cảm anh em cũng thân thiết lắm. Quen biết anh Quang, tôi cũng bắt đầu thích hát những bản nhạc do anh sáng tác thời anh hoạt động trong phong trào du ca, những bài ca khai phá, những bài hùng ca ngạo nghễ vang lên với niềm tự hào dân tộc. Qua bốn năm đại học, anh tôi và anh Quang đều về Sài Gòn . Tôi không có dịp gặp lại anh. Sau cuộc đổi đời năm một chín bảy lăm nghe nói anh vượt biên đi Mỹ. Ông anh tôi cũng nối bước ra đi nhưng không may mắn như anh Quang. Anh tôi đã không thể đến bến bờ tự do đoàn tụ người thân, gặp gỡ bạn cũ.
Khoảng cuối năm chín mươi, tôi được qua Mỹ và gặp lại anh Quang trong một lần họp mặt thân hữu Đà Lạt. Chúng tôi ngậm ngùi nhắc lại những kỷ niệm về người anh xấu số của mình, nhắc về một thời Đà Lạt thân yêu nay đã lùi vào dĩ vãng. Sau đó, thỉnh thoảng tôi cũng gặp anh. Như một cơ duyên, những lần gặp gỡ sau tôi thường gặp chung anh Quang với chị Tiến. Có một lần đón anh Thực, chị Hoài ở Canada sang. Anh Quang đến, anh hát say mê những bài hát do bạn bè yêu cầu, cùng với anh Anh Phương, anh Cường cũng hát những bài ca do anh sáng tác. Nhớ làm sao lời ca mênh mang của “ Bên kia sông ” bài hát trữ tình “ Vì tôi là linh mục” cùng nhiều bài ca do anh sáng tác hoặc phổ nhạc. Nhờ bài ca “ Bên kia sông” tôi đã cảm hứng viết một đoản văn để tặng anh, với tựa đề cùng tên bản tình ca tôi yêu thích ấy. “ Này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời. Này người yêu người yêu tôi hỡi, bên kia đồi cỏ tranh đan lối .....” . Lần gặp gỡ ấy cũng có chị Minh Thông, người bạn đời của anh. Chị bận rộn với cậu cháu , cậu cháu chạy loăng quăng trong khi ông nội đang đánh đàn. Nhìn gia đình anh chị với con cháu đề huề, chúng tôi thấy hạnh phúc làm sao! Nhưng hạnh phúc thật mong manh! Chỉ không lâu sau đó chị Thông đột ngột qua đời trong một cơn tai biến. Chúng tôi sững sờ đón nhận hung tin. Đến đưa tiễn chị Thông lần cuối, tôi gặp chị Tiến gầy rạc đau buồn trước sự ra đi của cô bạn thân, chị ở cả ngày cùng bạn ở nhà quàng, cùng tụng niệm cầu siêu với ban hộ niệm. Gặp anh Quang, chia buồn với sự mất mát lớn lao của anh, tỏ sự đau buồn với sự ra đi quá vội vã của chị Thông, anh Quang chỉ nói được với tôi một câu “ Chị ấy đang chơi trò cút bắt với anh đấy em ơi.” Buồn quá! Lời anh thật buồn ! Tôi chỉ biết cầm tay anh xiết mạnh.
Về chị Tiến, tôi biết chị Tiến cũng qua ông anh của mình. Vào những năm mới bước vào Trung học, ông anh tôi đã mang khoe tôi một tập “ Lưu Bút Ngày Xanh” trong đó phần lớn là những bạn nữ viết cho anh, những dòng chữ viết tay mềm mại bằng mực tím, vài tấm hình xinh xinh, thường là khổ hình nhỏ dán trong thẻ học sinh. Tôi biết chị Tiến là nhờ vậy. Năm tôi vào Đệ thất, chị Tiến, chị Minh Thông học Đệ nhất. “ Thấy sang bắt quàng làm họ” tôi thường tự hào khoe với các bạn “ Chị Tiến là bạn anh tôi đấy ”. Không phải chỉ mình tôi mà các bạn tôi cũng mê mấy chị Đệ nhất xinh đẹp của mình nên vào giờ ra chơi thường chạy đi tìm các chị. Khi các chị ở trong lớp không ra ngoài là chúng tôi lấp ló đến lớp dòm lén. Những lúc họ đi dạo trong sân trường chúng tôi lẳng lặng theo sau, chỉ để bắt chước dáng đi tha thướt của các chị rồi ước ao khi lớn lên mình cũng xinh như thế. Thú nhất là những hôm trường tổ chức văn nghệ là thể nào chúng tôi cũng được nhìn các chị biểu diễn trong những màn đơn ca, hợp ca, múa, hoạt cảnh. Vừa xinh đẹp lại nhiều tài nên các chị đều ở trong Ban Văn Nghệ của trường. Tôi không biết, ông anh tôi làm sao quen được chị Tiến vì anh học khác trường nhưng tôi biết một điều là anh rất yêu một người bạn thân của chị mà anh không dám mở lời. Anh Quang, anh Phong cũng biết được chuyện tình đơn phương ấy. Người bạn chị Tiến trùng tên với người con gái trong tác phẩm “ Lục Văn Tiên ” nổi tiếng của cụ Nguyễn Đình Chiểu . Hình như giờ này chị ấy cũng đang sinh sống ở Mỹ.
Lần gặp gỡ sau cùng với chị Tiến là ngày đám tang anh Mùi, hội trưởng Hội Thân Hữu Đà Lạt. Hôm ấy, chị Tiến mặc áo già lam, chị ốm hơn ngày thường nhưng trông chị vẫn trẻ trung, xinh xắn. Tôi thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp chị. Nói chuyện với chị sau thời kinh siêu độ cho anh Mùi. Ngồi bên chị trong nhà quàng, hai chị em thật buồn nhắc đến sự ra đi của anh Mùi. Anh Mùi cũng ra đi đột ngột quá, anh cũng là một trong những người bạn thân thiết của anh hai tôi. Hôm ấy chị nhắc nhở tôi cố gắng đến nhà chị vào chủ nhật sau đó, ngày ấy, sẽ có anh Thực ở Canada, anh Hoàng Kim Châu ở Texas qua, anh Nguyễn Đức Quang cũng sẽ có mặt. Các anh chị họp lại để chuẩn bị Đại Hội BTX và THĐ vào năm 2012. Dù đã nói với chị là tôi khó có thể đến nhà chị vào hôm ấy vì tôi không lái xe đi xa được, người em gái thường cùng tôi đến nhà chị hôm đó phải đi làm đột xuất, nhưng chị vẫn năn nỉ “ Em phải cố gắng đi nghe em. Đời sống mong manh vô thường quá, gặp đó rồi mất đó nên còn thấy nhau là còn hạnh phúc. Vui được mình cứ vui. Mình đâu biết ngày mai ra sao em hở? ”. Tối ấy, sau khi chờ cô em đi làm về, tôi gọi cho người bạn cũng có mặt trong buổi họp mặt cho biết là tôi có thể đến khoảng gần chín giờ tối nhưng cô bạn có ý kiến “ Mi mà đến giờ ấy chắc vãn tuồng rồi nhỏ ạ” Ái ngại đến trễ nên chúng tôi không tới. Ai ngờ nghe nói đêm ấy đến mười hai giờ mọi người mới ra về. Tôi thật ân hận là đã có cơ hội gặp chị, gặp anh Quang thêm một lần nữa mà không gặp. Giờ anh chị đã đi xa. Ngày đưa tiễn chị thật đông người tham dự. Chị được biết bao nhiêu người thương mến . Gởi đến chị một đóa hoa hồng vĩnh biệt trước khi lớp đất mới phủ lên áo quan chị, chia cách chị với bao người yêu thương, tôi nghẹn ngào nhớ đến lời chị: “ Đời sống vô thường, có đó mất đó…” Chị Tiến ơi, chúng em nhớ chị! Nhớ chị nhiều lắm!
Chị đã đi rồi
Xa lìa “cõi tạm”
Đến chốn bình an
Miền có nắng vàng
Hào quang chói sáng.
Chị Tiến ơi, em tin tưởng chị đang ở một nơi thật bình yên, an lạc. Cầu xin chị thanh thản, yên vui trong thương yêu tỏa sáng của Đức Phật từ bi.
Ngày tiễn đưa chị Tiến, anh Quang đang nằm trong bịnh viện và... giờ đây anh cũng đã vĩnh viễn ra đi, anh đã qua “ bên kia sông ” - khoảng sông mênh mông bên kia với màu trời chói nắng, với sương núi chập chùng, với suối reo, thác đỗ. Anh đang trở về với Đà Lạt dấu yêu, hồn anh đang bay bỗng trên đồi cù lộng gió, đang đến viếng Thủy Tạ ngày xưa anh thường cùng bạn bè đến nhâm nhi cà phê sáng, tối... hay lang thang trong khuôn viên đại học Đà Lạt năm nào? Anh đã trở về nơi miền bình yên miên viễn?
Thôi nhé anh, em đã đến bên anh, nhìn anh lần chót, ghi nhận cuối cùng hình ảnh anh, vầng trán cao cao, đôi mắt khép kín, đôi môi đã từng hát vang những bài ca không biết mệt giờ cũng đã im lìm, lặng câm. Anh Quang! Em đã đến gặp anh , thắp cho anh một nén nhang tiễn biệt. Nhìn bức ảnh trên bàn thờ anh, không phải là những bức hình chân phương đặt trên bàn thờ như thường lệ mà bức ảnh chụp với nét phóng khoáng đầy nghệ sĩ tính, bức ảnh đen trắng với đôi tay tì trên cây đàn, cây đàn ngày xưa anh đã từng gắn bó. Bức ảnh để thờ anh, em thấy thật đẹp. Em lại khen anh như ngày xưa khen anh đàn, anh hát hay vậy đó. Anh Quang ơi, nhớ Anh em chỉ biết cầu nguyện cho anh mãi mãi bình yên nơi cõi mới. Em cũng xin cảm ơn anh đã để lại muôn vàn bài ca, điệu đàn, cho chúng em cùng hát.
.
Anh nằm xuống xuôi tay yên nghỉ
Xa lánh cuộc đời, bỏ lại nợ, duyên.
Anh nằm xuống nhưng lời ca không tắt.
Anh ra đi nhưng hào khí vẫn còn.
Anh để lại cho người muôn nỗi nhớ.
Vĩnh biệt chị Tiến, vĩnh biệt anh Quang.
Nghiêm Đàlạt
Tháng ba / 2011
( Thơ của anh Trần Văn Lương )
Chỉ trong vòng một tháng mà tôi đã mất đi hai người thân, một người chị và một người anh thân thiết , chị Đỗ Thị Tiến, anh Nguyễn Đức Quang. Thật bàng hoàng khi hay tin chị ra đi và cũng buồn thương khi biết tin anh Quang vĩnh viễn rời xa gia đình, rời xa bạn bè yêu mến. Chị Tiến, anh Quang đều là bạn của ông anh tôi. Họ quen biết nhau hồi Trung học, lên Đại học, anh Quang học chung với anh tôi ở Chính Trị Kinh Doanh. Những năm ở Đại học với lý do chính đáng có nhiều bài vở, ông anh tôi được ba mẹ cho phép ra nhà cô tôi ở lại học hành. Nhà cô cách xa nhà tôi chỉ khoảng mười phút đi bộ̣ nên thỉnh thoảng tôi ra giúp anh dọn dẹp nhà cửa. Anh tôi cũng thường về nhà ăn những món ăn ngon do mẹ nấu. Thỉnh thoảng anh dẫn vài người bạn về nhà chơi , bởi vậy tôi cũng không nhớ rõ là tôi gặp anh Quang ở nhà cô tôi hay ở nhà mình, chỉ biết là tình cảm anh em cũng thân thiết lắm. Quen biết anh Quang, tôi cũng bắt đầu thích hát những bản nhạc do anh sáng tác thời anh hoạt động trong phong trào du ca, những bài ca khai phá, những bài hùng ca ngạo nghễ vang lên với niềm tự hào dân tộc. Qua bốn năm đại học, anh tôi và anh Quang đều về Sài Gòn . Tôi không có dịp gặp lại anh. Sau cuộc đổi đời năm một chín bảy lăm nghe nói anh vượt biên đi Mỹ. Ông anh tôi cũng nối bước ra đi nhưng không may mắn như anh Quang. Anh tôi đã không thể đến bến bờ tự do đoàn tụ người thân, gặp gỡ bạn cũ.
Khoảng cuối năm chín mươi, tôi được qua Mỹ và gặp lại anh Quang trong một lần họp mặt thân hữu Đà Lạt. Chúng tôi ngậm ngùi nhắc lại những kỷ niệm về người anh xấu số của mình, nhắc về một thời Đà Lạt thân yêu nay đã lùi vào dĩ vãng. Sau đó, thỉnh thoảng tôi cũng gặp anh. Như một cơ duyên, những lần gặp gỡ sau tôi thường gặp chung anh Quang với chị Tiến. Có một lần đón anh Thực, chị Hoài ở Canada sang. Anh Quang đến, anh hát say mê những bài hát do bạn bè yêu cầu, cùng với anh Anh Phương, anh Cường cũng hát những bài ca do anh sáng tác. Nhớ làm sao lời ca mênh mang của “ Bên kia sông ” bài hát trữ tình “ Vì tôi là linh mục” cùng nhiều bài ca do anh sáng tác hoặc phổ nhạc. Nhờ bài ca “ Bên kia sông” tôi đã cảm hứng viết một đoản văn để tặng anh, với tựa đề cùng tên bản tình ca tôi yêu thích ấy. “ Này người yêu, người yêu tôi ơi, bên kia sông là ánh mặt trời. Này người yêu người yêu tôi hỡi, bên kia đồi cỏ tranh đan lối .....” . Lần gặp gỡ ấy cũng có chị Minh Thông, người bạn đời của anh. Chị bận rộn với cậu cháu , cậu cháu chạy loăng quăng trong khi ông nội đang đánh đàn. Nhìn gia đình anh chị với con cháu đề huề, chúng tôi thấy hạnh phúc làm sao! Nhưng hạnh phúc thật mong manh! Chỉ không lâu sau đó chị Thông đột ngột qua đời trong một cơn tai biến. Chúng tôi sững sờ đón nhận hung tin. Đến đưa tiễn chị Thông lần cuối, tôi gặp chị Tiến gầy rạc đau buồn trước sự ra đi của cô bạn thân, chị ở cả ngày cùng bạn ở nhà quàng, cùng tụng niệm cầu siêu với ban hộ niệm. Gặp anh Quang, chia buồn với sự mất mát lớn lao của anh, tỏ sự đau buồn với sự ra đi quá vội vã của chị Thông, anh Quang chỉ nói được với tôi một câu “ Chị ấy đang chơi trò cút bắt với anh đấy em ơi.” Buồn quá! Lời anh thật buồn ! Tôi chỉ biết cầm tay anh xiết mạnh.
Về chị Tiến, tôi biết chị Tiến cũng qua ông anh của mình. Vào những năm mới bước vào Trung học, ông anh tôi đã mang khoe tôi một tập “ Lưu Bút Ngày Xanh” trong đó phần lớn là những bạn nữ viết cho anh, những dòng chữ viết tay mềm mại bằng mực tím, vài tấm hình xinh xinh, thường là khổ hình nhỏ dán trong thẻ học sinh. Tôi biết chị Tiến là nhờ vậy. Năm tôi vào Đệ thất, chị Tiến, chị Minh Thông học Đệ nhất. “ Thấy sang bắt quàng làm họ” tôi thường tự hào khoe với các bạn “ Chị Tiến là bạn anh tôi đấy ”. Không phải chỉ mình tôi mà các bạn tôi cũng mê mấy chị Đệ nhất xinh đẹp của mình nên vào giờ ra chơi thường chạy đi tìm các chị. Khi các chị ở trong lớp không ra ngoài là chúng tôi lấp ló đến lớp dòm lén. Những lúc họ đi dạo trong sân trường chúng tôi lẳng lặng theo sau, chỉ để bắt chước dáng đi tha thướt của các chị rồi ước ao khi lớn lên mình cũng xinh như thế. Thú nhất là những hôm trường tổ chức văn nghệ là thể nào chúng tôi cũng được nhìn các chị biểu diễn trong những màn đơn ca, hợp ca, múa, hoạt cảnh. Vừa xinh đẹp lại nhiều tài nên các chị đều ở trong Ban Văn Nghệ của trường. Tôi không biết, ông anh tôi làm sao quen được chị Tiến vì anh học khác trường nhưng tôi biết một điều là anh rất yêu một người bạn thân của chị mà anh không dám mở lời. Anh Quang, anh Phong cũng biết được chuyện tình đơn phương ấy. Người bạn chị Tiến trùng tên với người con gái trong tác phẩm “ Lục Văn Tiên ” nổi tiếng của cụ Nguyễn Đình Chiểu . Hình như giờ này chị ấy cũng đang sinh sống ở Mỹ.
Lần gặp gỡ sau cùng với chị Tiến là ngày đám tang anh Mùi, hội trưởng Hội Thân Hữu Đà Lạt. Hôm ấy, chị Tiến mặc áo già lam, chị ốm hơn ngày thường nhưng trông chị vẫn trẻ trung, xinh xắn. Tôi thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp chị. Nói chuyện với chị sau thời kinh siêu độ cho anh Mùi. Ngồi bên chị trong nhà quàng, hai chị em thật buồn nhắc đến sự ra đi của anh Mùi. Anh Mùi cũng ra đi đột ngột quá, anh cũng là một trong những người bạn thân thiết của anh hai tôi. Hôm ấy chị nhắc nhở tôi cố gắng đến nhà chị vào chủ nhật sau đó, ngày ấy, sẽ có anh Thực ở Canada, anh Hoàng Kim Châu ở Texas qua, anh Nguyễn Đức Quang cũng sẽ có mặt. Các anh chị họp lại để chuẩn bị Đại Hội BTX và THĐ vào năm 2012. Dù đã nói với chị là tôi khó có thể đến nhà chị vào hôm ấy vì tôi không lái xe đi xa được, người em gái thường cùng tôi đến nhà chị hôm đó phải đi làm đột xuất, nhưng chị vẫn năn nỉ “ Em phải cố gắng đi nghe em. Đời sống mong manh vô thường quá, gặp đó rồi mất đó nên còn thấy nhau là còn hạnh phúc. Vui được mình cứ vui. Mình đâu biết ngày mai ra sao em hở? ”. Tối ấy, sau khi chờ cô em đi làm về, tôi gọi cho người bạn cũng có mặt trong buổi họp mặt cho biết là tôi có thể đến khoảng gần chín giờ tối nhưng cô bạn có ý kiến “ Mi mà đến giờ ấy chắc vãn tuồng rồi nhỏ ạ” Ái ngại đến trễ nên chúng tôi không tới. Ai ngờ nghe nói đêm ấy đến mười hai giờ mọi người mới ra về. Tôi thật ân hận là đã có cơ hội gặp chị, gặp anh Quang thêm một lần nữa mà không gặp. Giờ anh chị đã đi xa. Ngày đưa tiễn chị thật đông người tham dự. Chị được biết bao nhiêu người thương mến . Gởi đến chị một đóa hoa hồng vĩnh biệt trước khi lớp đất mới phủ lên áo quan chị, chia cách chị với bao người yêu thương, tôi nghẹn ngào nhớ đến lời chị: “ Đời sống vô thường, có đó mất đó…” Chị Tiến ơi, chúng em nhớ chị! Nhớ chị nhiều lắm!
Chị đã đi rồi
Xa lìa “cõi tạm”
Đến chốn bình an
Miền có nắng vàng
Hào quang chói sáng.
Chị Tiến ơi, em tin tưởng chị đang ở một nơi thật bình yên, an lạc. Cầu xin chị thanh thản, yên vui trong thương yêu tỏa sáng của Đức Phật từ bi.
Ngày tiễn đưa chị Tiến, anh Quang đang nằm trong bịnh viện và... giờ đây anh cũng đã vĩnh viễn ra đi, anh đã qua “ bên kia sông ” - khoảng sông mênh mông bên kia với màu trời chói nắng, với sương núi chập chùng, với suối reo, thác đỗ. Anh đang trở về với Đà Lạt dấu yêu, hồn anh đang bay bỗng trên đồi cù lộng gió, đang đến viếng Thủy Tạ ngày xưa anh thường cùng bạn bè đến nhâm nhi cà phê sáng, tối... hay lang thang trong khuôn viên đại học Đà Lạt năm nào? Anh đã trở về nơi miền bình yên miên viễn?
Thôi nhé anh, em đã đến bên anh, nhìn anh lần chót, ghi nhận cuối cùng hình ảnh anh, vầng trán cao cao, đôi mắt khép kín, đôi môi đã từng hát vang những bài ca không biết mệt giờ cũng đã im lìm, lặng câm. Anh Quang! Em đã đến gặp anh , thắp cho anh một nén nhang tiễn biệt. Nhìn bức ảnh trên bàn thờ anh, không phải là những bức hình chân phương đặt trên bàn thờ như thường lệ mà bức ảnh chụp với nét phóng khoáng đầy nghệ sĩ tính, bức ảnh đen trắng với đôi tay tì trên cây đàn, cây đàn ngày xưa anh đã từng gắn bó. Bức ảnh để thờ anh, em thấy thật đẹp. Em lại khen anh như ngày xưa khen anh đàn, anh hát hay vậy đó. Anh Quang ơi, nhớ Anh em chỉ biết cầu nguyện cho anh mãi mãi bình yên nơi cõi mới. Em cũng xin cảm ơn anh đã để lại muôn vàn bài ca, điệu đàn, cho chúng em cùng hát.
.
Anh nằm xuống xuôi tay yên nghỉ
Xa lánh cuộc đời, bỏ lại nợ, duyên.
Anh nằm xuống nhưng lời ca không tắt.
Anh ra đi nhưng hào khí vẫn còn.
Anh để lại cho người muôn nỗi nhớ.
Vĩnh biệt chị Tiến, vĩnh biệt anh Quang.
Nghiêm Đàlạt
Tháng ba / 2011
Sunday, January 16, 2011
Sunday, December 5, 2010
Monday, September 6, 2010
Sunday, September 5, 2010
VNDK - Những ngày Đalạt
VIỆT NAM DU KÝ
Những ngày ở Đà Lạt
Ngày... tháng... năm
Có lẽ hôm nay là một ngày duy nhất tụi mình sống trọn vẹn, đúng nghĩa khách du lịch. Sáng thức dậy sớm, tính đi ăn sáng, sau đó tiếp tục đi thăm bà con, bạn bè thì Thuận đến. Thuận giới thiệu Tính, em của Thuận sẽ là người tài xế chở bọn mình đi thăm cảnh ở Đà Lạt. Thuận liến thoắng lên tiếng: “ Em phải bắt cóc chị suốt ngày nay mới được. Từ hôm chị về đến nay, không dành cho em một ngày nào cả. Hôm nay chị cho em được quyền quyết định đưa các chị đi thăm Đà Lạt .” Hết có cơ từ chối hai chị em đành phải để Thuận sắp xếp.
Đầu tiên mấy chị em ghé quán bún bò ở Hai Bà Trưng, nghe nói bún bò Huế chính hiệu dòng dõi Tôn Thất. Bún bò ăn cũng tạm được chứ không xuất sắc chỉ có dĩa rau sống là hấp dẫn. Vốn đã thử lửa khi ăn mì Quảng nên tụi mình không còn sợ ăn rau sống nữa ...Những dĩa rau tươi với xà lách Đà Lạt thái mỏng trộn lẫn với rau thơm, rau muống, ngò, giá...trong những quán ăn bình dân ở Đà Lạt mới hấp dẫn làm sao! Những màu sắc hài hoà của rau tạo nên một bức tranh sinh động, bắt mắt....chỉ nhìn thôi là đã muốn ăn ngay.
Rời quán bún bò “68 ” Hai Bà Trưng, chú tài cho xe đi lần về hướng Cam Ly. Ngày nay họ đã mở một con đường ở Cam Ly Thượng đến hồ Tuyền Lâm. Đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng ở Đà Lạt mà đa số du khách muốn đến thăm. Hồ cách Đà Lạt khoảng bốn cây số. Tuy hồ đã có từ lúc mình còn ở Đà Lạt nhưng mình chưa có dịp viếng thăm, lúc xưa bố mình cùng một số bà con đã mua một khoảng đất ở suối Tía, chưa kịp khai thác thì biến cố bảy lăm xảy ra, không ai nghĩ đến việc khai thác nữa, về sau này chính quyền mới đã ngăn dòng suối Tía và thượng nguồn con sông Đạ Tam để tạo nên hồ.
Chùa được xây trên một ngọn đồi bao quanh là những rừng thông xanh ngắt. Ngôi chùa được kiến trúc gần như những chùa ở Nhật Bản. Mái ngói, vòm cong ở hai đầu, trên mái chùa trang trí bằng một hình khắc dạng như bánh xe luân hồi. Mái chùa xây rộng ra, được chống đỡ bởi bốn cái cột kiên cố. Trước cổng chùa trồng hai hàng tùng cao xanh. Sau khi vào thắp nhang lễ Phật, chúng mình lần theo những bậc thang đi dần xuống hồ ngắm cảnh. Từ trên cao nhìn xuống, thấp thoáng sau những hàng thông xanh mặt hồ lấp lánh ánh bạc. Khác với những nơi mình đi qua, trời ở đây thật xanh, mây thật trắng...Đi giữa thiên nhiên nên thơ trong tiếng vi vu của gíó ngàn, trong hương vị thơm nồng của hương phấn, lắng nghe được sự trở mình của cây, cỏ, của hoa dại bao quanh, mình thấy hồn lâng lâng thoát tục. Theo những bậc thang xuống dần đến hồ...cả một vùng mây nước rộng mênh mông... bao quanh hồ vẫn là rừng thông xanh ngắt, trên trời mây trắng lững lờ trôi. Ven hồ một vài căn nhà lá đơn sơ với liễu buông mành, một dãy ca nô nằm đợi khách ven hồ, một lão câu đang lặng yên chờ một chú cá khờ khạo nào đó đến viếng. Khung cảnh ở đây thơ mộng làm sao! Mấy chiếc máy ảnh của bọn mình mang theo nháy liên hồi vì cảnh thiên nhiên bao quanh thật tuyệt vời, thật quyến rũ!
Dọc theo bờ hồ có một số gian hàng bán vật lưu niệm. Ở đây bán thật nhiều những đồ thủ công mỹ nghệ đa số đều do những thợ ở Đà lạt làm ra như tranh thêu, tranh chạm bút lửa, những bình cắm hoa, bình đựng tăm, những bãng gỗ khắc tên, chạm hoa... Ngoài những tranh ảnh đẹp, những tranh chạm bút lửa chạm thật tỉ mỉ tinh vi ra họ còn bán những đặc sản của Đà Lạt như bánh mứt , khoai lang dẽo, mật dâu, rượu dâu và thật nhiều những hũ rượu cần mà trước đây mình chưa hề thấy bán ở chợ hoặc ở những nơi bán đồ lưu niệm. Nhìn những ché rượu cần lại gợi mình nhớ những tháng ngày yên vui xưa cũ. Vừa ra trường mình được đổi đến dạy ở một thị xã cách xa Đà Lạt khoảng bốn mươi cây số. Dân chúng phần đông là người Thái, người Tày, người Nùng....còn những làng hơi xa thị trấn là những buôn làng người Thượng. Tuy là dân thiểu số nhưng đời sống của họ khá cao, con cái được đến trường học tiếng Việt. Ruộng vườn họ cũng đã biết dùng máy cày thay trâu. Từ buôn làng ra thị trấn học các em người Thượng đã đi Honda đến trường. Mỗi lúc đi đông họ dùng máy cày để chở. Có một hôm thầy cô giáo chúng mình nhận được thiệp mời tham dự ngày “ mừng lúa mới ” của một buôn làng cách xa trường khoảng mười cây số. Vốn thích tìm hiểu phong tục tập quán của người dân bản xứ nên tụi mình bằng lòng đi ngay. Chủ nhật đó, một chiếc xe máy cày được độ lại với một thùng xe có thể chứa mười người do một thanh niên người thiểu số đến đón chúng mình. Chàng trai có một thân hình thật vạm vỡ, khuôn mặt rắn rỏi, nước da nâu , đặc biệt hắn có cặp mắt đẹp vô cùng, đôi mắt to màu nâu hạt dẽ, lông nheo dài, cong vút cọng thêm đôi mày rậm... nhìn hắn mình chợt liên tưởng đến một bức tượng đồng đẹp, một vẻ đẹp thật hoang dã.
Ngồi trên máy cày, cười nói trong tiếng ầm ầm của động cơ máy cày, thích thú nhìn cảnh sắc xinh đẹp bao quanh, chúng mình quên đi trước đó đã ái ngại mắc cở không muốn dùng phương tiện di chuyển này chút nào. Sau khi vượt qua đoạn đường Quốc lộ hai mươi, xe chúng mình rẽ vào những con đường làng quanh co tiến vào buôn. Những thửa ruộng lúa đã gặt trơ gốc rạ, đó đây những chú gà đang thong thả nhặt thóc, vài chú trâu nằm khoanh mình tránh nắng dưới những rặng tre đằng ngà cong vút. Qua khỏi rặng tre buôn làng đã hiện ra trước mắt với những nhà sàn với gỗ mới, mái lợp tôn khác hẳn những nhà sàn lợp tre ở những buôn Thượng mình được thăm ở Suối Vàng thuở nhỏ. Chiếc xe ngừng lại trước một căn nhà lớn. Đây là nhà của trưởng buôn. Bàn tiệc đã được bày sẵn, chỉ chờ chúng mình đến nhập tiệc. Bữa ăn hôm nay đa số là thịt nướng :thịt trâu, thịt heo rừng, thịt bò...ăn với xôi, với cơm lúa mới. Dù là thịt tươi nhưng không được ướp gia vị trước khi nướng nên cũng không ngon mấy, tụi mình chỉ ăn lấy lệ. Những vò rượu cần được chủ nhân mang ra mời cũng được tụi mình nếm thử, vị lạt hơi cay, không hấp dẫn tụi mình tí nào cả, chỉ mấy thầy giáo tưởng rượu cần lạt thếch uống không say, ai ngờ chỉ tu vài hớp người nào cũng ngất ngây nghiêng ngã...cười nói huyên thiên. Hôm nay tình cờ thấy lại những ché rượu cần tự dưng mình thấy nhớ những bạn xưa chi lạ. Không biết lúc này họ ở nơi đâu? Những cô thầy giáo đến từ nhiều nơi từ miền Trung xa xôi có Thầy Giản, cô Hương, cô Quế. Ở Biên Hòa, Sài Gòn có Trung, có Thép. Ở Cần Thơ có Giang, có Hùng....Ngay cả những bạn ở Đà Lạt như Thanh Bình, Thuý Ái...mình cũng chưa hề gặp lại. Ngắm vật nhớ người. Những ché rượu cần gợi biết bao nhiêu kỷ niệm xưa, những tháng ngày bình yên trên quê hương xưa cũ...
Tiếng chuông chùa chợt gióng lên vang trong cái tĩnh mịch cô liêu của núi rừng, ở đây tiếng chuông giờ ngọ cũng làm hồn mình êm ả, lắng sâu... tự dưng mình chợt hiểu ra là tại sao lại có người bỏ tất cả giàu sang phú quý để tìm đến những nơi thâm sâu ẩn tu, tìm sự bình an cho tâm hồn. Giã từ Trúc Lâm Thiền Viện lòng bồi hồi nhớ tiếc như mình đã rời xa một nơi thế ngoại đào viên.
Còn tiếp
Forget me not Đà Lạt
.
Những ngày ở Đà Lạt
Ngày... tháng... năm
Có lẽ hôm nay là một ngày duy nhất tụi mình sống trọn vẹn, đúng nghĩa khách du lịch. Sáng thức dậy sớm, tính đi ăn sáng, sau đó tiếp tục đi thăm bà con, bạn bè thì Thuận đến. Thuận giới thiệu Tính, em của Thuận sẽ là người tài xế chở bọn mình đi thăm cảnh ở Đà Lạt. Thuận liến thoắng lên tiếng: “ Em phải bắt cóc chị suốt ngày nay mới được. Từ hôm chị về đến nay, không dành cho em một ngày nào cả. Hôm nay chị cho em được quyền quyết định đưa các chị đi thăm Đà Lạt .” Hết có cơ từ chối hai chị em đành phải để Thuận sắp xếp.
Đầu tiên mấy chị em ghé quán bún bò ở Hai Bà Trưng, nghe nói bún bò Huế chính hiệu dòng dõi Tôn Thất. Bún bò ăn cũng tạm được chứ không xuất sắc chỉ có dĩa rau sống là hấp dẫn. Vốn đã thử lửa khi ăn mì Quảng nên tụi mình không còn sợ ăn rau sống nữa ...Những dĩa rau tươi với xà lách Đà Lạt thái mỏng trộn lẫn với rau thơm, rau muống, ngò, giá...trong những quán ăn bình dân ở Đà Lạt mới hấp dẫn làm sao! Những màu sắc hài hoà của rau tạo nên một bức tranh sinh động, bắt mắt....chỉ nhìn thôi là đã muốn ăn ngay.
Rời quán bún bò “68 ” Hai Bà Trưng, chú tài cho xe đi lần về hướng Cam Ly. Ngày nay họ đã mở một con đường ở Cam Ly Thượng đến hồ Tuyền Lâm. Đây là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng ở Đà Lạt mà đa số du khách muốn đến thăm. Hồ cách Đà Lạt khoảng bốn cây số. Tuy hồ đã có từ lúc mình còn ở Đà Lạt nhưng mình chưa có dịp viếng thăm, lúc xưa bố mình cùng một số bà con đã mua một khoảng đất ở suối Tía, chưa kịp khai thác thì biến cố bảy lăm xảy ra, không ai nghĩ đến việc khai thác nữa, về sau này chính quyền mới đã ngăn dòng suối Tía và thượng nguồn con sông Đạ Tam để tạo nên hồ.
Chùa được xây trên một ngọn đồi bao quanh là những rừng thông xanh ngắt. Ngôi chùa được kiến trúc gần như những chùa ở Nhật Bản. Mái ngói, vòm cong ở hai đầu, trên mái chùa trang trí bằng một hình khắc dạng như bánh xe luân hồi. Mái chùa xây rộng ra, được chống đỡ bởi bốn cái cột kiên cố. Trước cổng chùa trồng hai hàng tùng cao xanh. Sau khi vào thắp nhang lễ Phật, chúng mình lần theo những bậc thang đi dần xuống hồ ngắm cảnh. Từ trên cao nhìn xuống, thấp thoáng sau những hàng thông xanh mặt hồ lấp lánh ánh bạc. Khác với những nơi mình đi qua, trời ở đây thật xanh, mây thật trắng...Đi giữa thiên nhiên nên thơ trong tiếng vi vu của gíó ngàn, trong hương vị thơm nồng của hương phấn, lắng nghe được sự trở mình của cây, cỏ, của hoa dại bao quanh, mình thấy hồn lâng lâng thoát tục. Theo những bậc thang xuống dần đến hồ...cả một vùng mây nước rộng mênh mông... bao quanh hồ vẫn là rừng thông xanh ngắt, trên trời mây trắng lững lờ trôi. Ven hồ một vài căn nhà lá đơn sơ với liễu buông mành, một dãy ca nô nằm đợi khách ven hồ, một lão câu đang lặng yên chờ một chú cá khờ khạo nào đó đến viếng. Khung cảnh ở đây thơ mộng làm sao! Mấy chiếc máy ảnh của bọn mình mang theo nháy liên hồi vì cảnh thiên nhiên bao quanh thật tuyệt vời, thật quyến rũ!
Dọc theo bờ hồ có một số gian hàng bán vật lưu niệm. Ở đây bán thật nhiều những đồ thủ công mỹ nghệ đa số đều do những thợ ở Đà lạt làm ra như tranh thêu, tranh chạm bút lửa, những bình cắm hoa, bình đựng tăm, những bãng gỗ khắc tên, chạm hoa... Ngoài những tranh ảnh đẹp, những tranh chạm bút lửa chạm thật tỉ mỉ tinh vi ra họ còn bán những đặc sản của Đà Lạt như bánh mứt , khoai lang dẽo, mật dâu, rượu dâu và thật nhiều những hũ rượu cần mà trước đây mình chưa hề thấy bán ở chợ hoặc ở những nơi bán đồ lưu niệm. Nhìn những ché rượu cần lại gợi mình nhớ những tháng ngày yên vui xưa cũ. Vừa ra trường mình được đổi đến dạy ở một thị xã cách xa Đà Lạt khoảng bốn mươi cây số. Dân chúng phần đông là người Thái, người Tày, người Nùng....còn những làng hơi xa thị trấn là những buôn làng người Thượng. Tuy là dân thiểu số nhưng đời sống của họ khá cao, con cái được đến trường học tiếng Việt. Ruộng vườn họ cũng đã biết dùng máy cày thay trâu. Từ buôn làng ra thị trấn học các em người Thượng đã đi Honda đến trường. Mỗi lúc đi đông họ dùng máy cày để chở. Có một hôm thầy cô giáo chúng mình nhận được thiệp mời tham dự ngày “ mừng lúa mới ” của một buôn làng cách xa trường khoảng mười cây số. Vốn thích tìm hiểu phong tục tập quán của người dân bản xứ nên tụi mình bằng lòng đi ngay. Chủ nhật đó, một chiếc xe máy cày được độ lại với một thùng xe có thể chứa mười người do một thanh niên người thiểu số đến đón chúng mình. Chàng trai có một thân hình thật vạm vỡ, khuôn mặt rắn rỏi, nước da nâu , đặc biệt hắn có cặp mắt đẹp vô cùng, đôi mắt to màu nâu hạt dẽ, lông nheo dài, cong vút cọng thêm đôi mày rậm... nhìn hắn mình chợt liên tưởng đến một bức tượng đồng đẹp, một vẻ đẹp thật hoang dã.
Ngồi trên máy cày, cười nói trong tiếng ầm ầm của động cơ máy cày, thích thú nhìn cảnh sắc xinh đẹp bao quanh, chúng mình quên đi trước đó đã ái ngại mắc cở không muốn dùng phương tiện di chuyển này chút nào. Sau khi vượt qua đoạn đường Quốc lộ hai mươi, xe chúng mình rẽ vào những con đường làng quanh co tiến vào buôn. Những thửa ruộng lúa đã gặt trơ gốc rạ, đó đây những chú gà đang thong thả nhặt thóc, vài chú trâu nằm khoanh mình tránh nắng dưới những rặng tre đằng ngà cong vút. Qua khỏi rặng tre buôn làng đã hiện ra trước mắt với những nhà sàn với gỗ mới, mái lợp tôn khác hẳn những nhà sàn lợp tre ở những buôn Thượng mình được thăm ở Suối Vàng thuở nhỏ. Chiếc xe ngừng lại trước một căn nhà lớn. Đây là nhà của trưởng buôn. Bàn tiệc đã được bày sẵn, chỉ chờ chúng mình đến nhập tiệc. Bữa ăn hôm nay đa số là thịt nướng :thịt trâu, thịt heo rừng, thịt bò...ăn với xôi, với cơm lúa mới. Dù là thịt tươi nhưng không được ướp gia vị trước khi nướng nên cũng không ngon mấy, tụi mình chỉ ăn lấy lệ. Những vò rượu cần được chủ nhân mang ra mời cũng được tụi mình nếm thử, vị lạt hơi cay, không hấp dẫn tụi mình tí nào cả, chỉ mấy thầy giáo tưởng rượu cần lạt thếch uống không say, ai ngờ chỉ tu vài hớp người nào cũng ngất ngây nghiêng ngã...cười nói huyên thiên. Hôm nay tình cờ thấy lại những ché rượu cần tự dưng mình thấy nhớ những bạn xưa chi lạ. Không biết lúc này họ ở nơi đâu? Những cô thầy giáo đến từ nhiều nơi từ miền Trung xa xôi có Thầy Giản, cô Hương, cô Quế. Ở Biên Hòa, Sài Gòn có Trung, có Thép. Ở Cần Thơ có Giang, có Hùng....Ngay cả những bạn ở Đà Lạt như Thanh Bình, Thuý Ái...mình cũng chưa hề gặp lại. Ngắm vật nhớ người. Những ché rượu cần gợi biết bao nhiêu kỷ niệm xưa, những tháng ngày bình yên trên quê hương xưa cũ...
Tiếng chuông chùa chợt gióng lên vang trong cái tĩnh mịch cô liêu của núi rừng, ở đây tiếng chuông giờ ngọ cũng làm hồn mình êm ả, lắng sâu... tự dưng mình chợt hiểu ra là tại sao lại có người bỏ tất cả giàu sang phú quý để tìm đến những nơi thâm sâu ẩn tu, tìm sự bình an cho tâm hồn. Giã từ Trúc Lâm Thiền Viện lòng bồi hồi nhớ tiếc như mình đã rời xa một nơi thế ngoại đào viên.
Còn tiếp
Forget me not Đà Lạt
.
Subscribe to:
Posts (Atom)