Sunday, September 4, 2011
VNDK CHỊ TÔI
CHỊ TÔI
Tôi đến chợ Phú Quý Phan Rang khoảng năm giờ chiều, chợ vẫn còn đông đúc người mua kẻ bán. Đi lòng vòng trong khu chợ nhỏ, hỏi thăm một vài người bán hàng là chúng tôi tìm ngay ra nhà chị. Mỗi lần viết thư cho chị điều mà tôi bực mình nhất là chỗ chị ở không có số nhà. Cứ như là sống một nơi khỉ ho cò gáy không ai biết đến. Thơ cho chị chỉ ngắn gọn đề tên thằng Vọi con trai chị, và tên ngôi chợ mới. “ Chợ Phú Quý ” Giờ đi tìm nhà mới thấy ở ngôi chợ nhỏ này, mọi người đều biết nhau. Ngôi nhà chị cất sát chợ. Nhà hai tầng, mái ngói...trước cửa nhà chị bày một sạp hàng bán trứng vịt, cá khô, nước mắm... Để tạo sự ngạc nhiên cho chị, tôi đội chiế́c mũ che kín vầng trán, mang kính to bản sậm màu, làm như người mua hàng tôi hỏi mua ít hàng hóa mang về Sài Gòn. Quên giả giọng nên khi ngước nhìn tôi chị nhận ra tôi ngay: “ Xạo mày! Nghe giọng nói là tao biết mày ngay mà.” Vẫn như xưa chị vẫn mày tao chi tớ với tôi. Cái tội mà mẹ tôi la mãi vẫn không chừa. Rồi khuôn mặt đang rạng rỡ reo vui bỗng dưng chùng xuống, chị oà lên khóc nức nở “ Chỉ mình mày về thôi sao? Tao nằm mơ thấy cả mày và Anh Châu về thăm tao. Sao chỉ có mày về thôi hả?” “ Tôi về được là cả một một vấn đề rồi. Còn Anh Châu, chị biết mà, cho đến chết ảnh cũng không quay lại ”. Nước mắt đoanh tròng chị lôi tôi vào nhà. Vào trong nhà, căn phòng rộng nhất chị để đủ thứ hàng hóa, vài giỏ lớn chứa trứng cút, trứng gà vịt, măng khô... ngoài ra còn có thêm một số mặt hàng như hành tây, tỏi, cà chua. Nhìn chung tôi đoán cuộc sống của chị cũng đã khá giả hơn trước, cũng mừng cho chị. Có điều trông chị hôm nay tưởng như một người đàn bà khác. Chị già đi thật nhiều. Không ai có thể hình dung chị là một hoa khôi năm nào ở một trường trung học tư thục nổi tiếng của Đà Lạt. Mái tóc dài đen mượt ngày nào giờ khô cằn xơ xác, trắng không ra trắng, đen không hẳn đen, được cắt ngắn như những bà xẩm thường gánh bánh bao, bánh mì đi dạo trên đường phố ngày nào. Mới ngoài sáu mươi mà khuôn mặt chị có thật nhiều vết nhăn, chị cười nhưng đôi mắt như chứa nhiều phiền muộn. Ngồi bên chị tôi ngỡ như đang trở về bên chị với những tháng năm thần tiên ở Đà Lạt quê tôi. Chị tôi hơn tôi những mười tuổi nên tôi được chị bồng ẵm, chăm sóc hồi tấm bé... Chị đã từng cõng tôi trên lưng mò mẫm chui vào từng bụi lau, bụi sậy để hái những quả bứa rừng, những trái mát mát theo lời đòi hỏi của người em quá quắt. Chị khác nào người mẹ trẻ luôn gần gũi bảo vệ tôi, chị đã nhận giùm tôi những lỗi lầm về phần mình để hứng đỡ những ngọn roi đau mỗi lần tôi phạm lỗi. Chị đã chiều tôi mọi điều kể cả những đòi hỏi thật vô lý. Có một lần tôi đã năn nỉ chị trèo lên mái nhà lấy cho được một tổ chim sẻ. Chị đã cho tôi biết làm như thế chim mẹ sẽ buồn, chim con cũng buồn phải xa mẹ, không biết có thể sống được không, nhưng tôi vẫn không nghe, nhất định đòi chị phải lấy cho bằng được tổ chim đó. Chiều tôi chị đã phải khó khăn lắm mới lấy tổ chim xuống được. Tôi dành chị phần đút cơm cho hai chú se sẻ con thật dễ thương. Dù được chăm sóc kỹ lưỡng nhưng chỉ qua mấy ngày hai chú chim tội nghiệp cũng chết, không biết chi vì xa mẹ, thiếu hơi ấm chim bỏ ra đi, hay bởi vì chim chết vì bội thực vì tôi cho chim ăn nhiều quá. Chị em tôi có biết bao nhiêu điều để nói, biết bao nhiêu kỷ niệm để nhớ về. Chị như người mẹ thứ hai mà tôi luôn thương quý.
Người ta thường nói “ Hồng nhan bạc phận ” câu nói ấy thật đúng khi nói về chị tôi, người đàn bà đã có một thời xinh đẹp ấy. Thuở ấy, dáng chị cao, thân hình thật cân đối, nước da trắng mịn màng, thật nhiều chàng trồng cây si, nhất là các thanh niên chòm xóm và các chàng Sinh Viên Sĩ Quan, bạn học của anh trai tôi. Được săn đón, chiều chuộng và tỏ lời thương yêu của nhiều chàng trai khá gỉả nhưng trái tim chị lại trao cho một thanh niên lớn hơn mình cả mười tuổi, làm huấn luyện viên thể dục trong một trường Quân đội, đã từng có vợ và ly dị vợ. Khi yêu đắm say thường ta hay quên đi khuyết đỉểm của người yêu mình, mặc dù bị gia đình phản đối chị cũng nhất định đòi lấy cho bằng được người mình yêu. Chị lấy chồng ở lứa tuổi đôi mươi, bỏ cả việc học đang dang dở. Sau khi lấy chồng, chồng chị chuyển công tác về Sài Gòn. Chị theo chồng về sống ở đó, lần lượt ba đứa con ra đời, hai trai, một gái. Sống ở nơi đô hội, bao quanh biết bao nhiêu gái đẹp, lại thêm bản tính đa tình, chồng chị lăng nhăng với nhiều người con gái khác, cuối cùng lập phòng nhì với một người đàn bà góa đã có con. Chị ghen tuông thì người chồng không nương tay đánh đập thậm tệ. Chị phải viết thư về nhà kêu mẹ xuống đón chị về. Về lại Đà Lạt, chị phụ với mẹ buôn bán nuôi con, cả tuổi thanh xuân không có được những ngày hạnh phúc. Rồi biến cố bảy lăm xảy ra, chồng chị bị đi tù. Quên đi những tháng năm bị ngược đãi chị lại lặn lội thăm nuôi chồng. Ngày chồng được thả ra chị lại nghe lời chồng bỏ Đà Lạt mang theo con cái về Phan Rang, dắt díu nhau lên tận một làng Chàm xa xôi thiếu thốn mọi tiện nghi để tránh sự theo dõi của chính quyền điạ phương. Mấy năm ở làng Chàm làm ruộng làm rẫy. Nắng khô, hạn, lại thêm mùi vị của nước biển, của gió cát ở vùng đất khắc nghiệt ấy làm làn da chị già cỗi, xấu hẳn đi ...Mỗi lần về thăm mẹ, nhìn đứa con yêu của mình khổ sở tàn tạ, mẹ chị cằn nhằn, cẳn nhẵn chị hoài, chê chị ngu, chị khờ khạo đi nghe lời một người không ra gì để bây giờ làm khổ chị, làm khổ con mình... ở làng Chàm được vài tháng người chồng đề nghị với chị cho chàng vượt biên. Để chồng ra đi, gánh nặng gia đình hằn trên đôi vai chị. Những đứa con lớn lên trong một xã hội chủ nghĩa, có cha là người làm việc trong chế độ cũ, là tù cải tạo cải tạo trở về lại thêm tội phản động vượt biên. Thật khó khăn khi phải sống trong chế độ hà khắc, vậy mà chị vẫn cố gắng làm việc cực nhọc cố gắng vươn lên, nuôi con, cho con ăn học đến nơi đến chốn. Nỗi đau của người mặt lại quặn thắt hơn khi đứa con gái xinh xắn, dễ thương của chị đột ngột qua đời chỉ sau vài cơn nóng sốt. Tội nghiệp chị với nỗi mất mát đớn đau ấy. Chị ngơ ngơ ngẩn hằng bao nhiêu năm dài mới nguôi ngoai nỗi mất con. Chồng chị vượt biển ra đi thật may mắn được đến bến bờ tự do. Xa cách muôn trùng, thêm nữa tính bay bướm vẫn không rời người chồng, chồng chị tiếp tục bước thêm từng bước, từng bước với những người đàn bà khác. Qua Mỹ được một thời gian, chồng chị gởi giấy tờ bảo lãnh cho con chị. Cậu con đầu thương mẹ không đi chỉ có người con thứ theo bố qua Mỹ. Chồng ra đi, Chị bỏ hẳn làng Chàm về mua đất làm nhà ở Phú Quý. Tuy cuộc sống đỡ cực nhọc hơn nhưng chị sức khoẻ của chị lại sa sút vì chứng đau khớp, kết quả của những tháng ngày lao động vất vả vẫn bám mãi không rời. Rồi những tháng ngày gần đây, mỗi lần gọi điện thoại về chị đều khóc và nói những lời như trối trăn “ Phúc ơi, tao sợ tao không có cơ hội gặp lại mày, gặp lại Anh Châu. Anh Châu và mày không muốn về thăm. Tao lại không có cơ hội qua đó. Tao nhớ mày lắm Phúc ơi. ” Lời chị như xoáy buốt tim tôi, những kỷ niệm về gia đình về chị lại thường tìm đến với tôi trong những giấc mơ. Từ lúc bỏ nước ra đi, tôi không một mảy may muốn quay lại nơi quê hương tội đày của mình, tôi không hề muốn quay lại nơi chốn đã chôn vùi tuổi thanh xuân của tôi trong lò cải tạo chịu nhiều nỗi đớn đau từ tinh thần đến thể xác. Thế nhưng, con người yếu đuối tình cảm của tôi lại quắt quay mỗi khi nhớ đến người chị khốn khổ của mình. Tôi đã tìm về thăm chị qua hai mươi năm trời xa xứ. Tôi đã găp lại người chị già nua, bịnh hoạn của mình, đau xót không chia được nỗi buồn, nỗi đau của chị. Nhìn chị gầy yếu so với những tháng ngày xưa mà xót xa thương cảm, mà bức rức đau lòng. Ngồi bên chị, hai chị em tay đan tay trong nhau tôi thấy ấm áp làm sao, hạnh phúc làm sao. Có tôi bên chị, chị vui cười nói huyên thiên, hỏi chị về căn bệnh thấp khớp chị cười nói : “ Tao đã bớt nhiều. Có mày về thăm, tiếp thêm nguồn sinh lực, tao sẽ mạnh lại ngay mà.”
Buổi sáng giã từ chị ra đi, chị cầm tay tôi bịn rịn “Những ngày ngắn ngủi em ở bên chị là hạnh phúc lớn lao nhất chị nhận được trong tháng ngày này. Chị cảm ơn Trời Phật đã đưa em về gặp chị. Chị cảm ơn em đã “quên” những điều không thể quên để về thăm chị. Em nhớ giữ gìn sức khỏe nghe em. Có sức khoẻ là có tất cả”. Ôm chị thật chặt trong vòng tay, nước mắt tôi ứa ra, không biết tôi khóc vì sắp xa chị hay vì chị ốm quá làm tôi xót xa thương chị. Leo vội lên xe tôi không dám quay đầu nhìn chị và tôi chợt nhận ra lần đầu tiên chị không xưng mày tao với mình.
Về lại Mỹ chỉ ba tuần sau thì chị của tôi ra đi. Chị đã dấu không cho tôi biết là chị đã vướng phải căn bệnh ngặt nghèo không chữa nỗi. Những ngày tôi ở bên chị, căn bịnh ung thư của chị đã đến thời kỳ cuối, chị đã cố gắng chịu đựng những cơn đau chợt đến, chợt đi mà...trời ơi tôi không hề hay biết. Tôi thật vô tâm và đáng trách làm sao... nhưng dù gì tôi cũng đỡ ân hận vì đã có cơ hội gặp chị lần cuối cùng, đã mang đến cho chị những nụ cười vui, những giọt nước mắt buồn khi cả hai nhắc về quá khứ. Giờ thì chị của tôi đã đi xa, thật xa... Chị ơi! Em cầu xin cho chị đang cùng ba mạ sống trong một cõi bình an miên viễn nhất, hạnh phúc nhất. Em nhớ chị lắm chị ơi....
Forget Me Not Đalạt
VNDK Thăm Nha Trang Ngày về với biển
VIỆT NAM DU KÝ
( Tiếp theo )
NGÀY VỀ THĂM BIỂN
Ngày....tháng ....năm...
Thắm thoát mình về Việt Nam được hai mươi ngày. Hôm nay tụi mình sẽ đi Phan Rang như dự tính. Mới sáu giờ sáng, Lộc, cậu tài xế bà con với Dung đã gọi điện thoại : “ Chị ơi em đang đứng ở trước cửa khách sạn nè.” “ Ủa, sao em nói bảy giờ mới đến. ” Lộc cười to trong điện thoại “ Em biết mấy chị sửa soạn lâu lắm nên đến trước trừ hao.” Mở cửa khách sạn đón Lộc vào, hai chị em vội vàng đi đánh răng rửa mặt. Hành lý mang theo đã chuẩn bị hôm qua nên không đầy nửa tiếng là tụi mình đã lên xe. Gọi điện thoại báo cho Dung biết sẽ đến đón cô nàng sớm hơn dự tính, Dung vui vẻ báo là đã chuẩn bị xong, ngay món điểm tâm là xôi và bánh mì thịt cũng đã chuẩn bị để tiết kiệm thời gian đi ăn sáng ở tiệm.
Buổi sáng Đà Lạt trời lành lạnh, cái lạnh se se của những ngày đầu mùa Đông, ngồi trên xe tụi mình lấy bánh mì ra gặm, vừa nhâm nhi bánh mì vừa nhắc lại những kỷ niệm xa xưa, nhớ nhất là những hôm trời lạnh chờ bánh mì Vĩnh Chấn ra lò, những chiếc bánh mì dài, nhỏ , ốm như cái que bên ngoài có phết một chút bơ. Bẻ một miếng nhỏ bỏ vào miệng, cắn kêu “ rộp ”, vị béo của bơ trộn lẫn vị bùi đặc biệt của bột mới hấp dẫn làm sao!. Nhai bánh mì trong cái lạnh của Đà Lạt mới thấy thú vị. Nhớ ngày xưa, gần nhà thờ Tin Lành cũng có lò bánh mì tên “ Hoà Bình ” Đặc biệt ở đây có bánh mì ba tê kiểu Pháp. Mình chưa thấy bánh mì ba tê ở đâu ngon bằng đây. Thuở ấy, mẹ hay sai mình đi chợ cùng với cậu em trai. Hai chị em mê ăn bánh mì ba tê đến nỗi không dám đi xe, để dành tiền ăn bánh. Đến tiệm bánh, rón rén vào cửa, bấm nhẹ chuông chờ chủ ra bán. Hai chị em dán mắt nhìn vào tủ kính. Hấp dẫn làm sao! Những chiếc bánh mỳ ba tê xếp cạnh những cái bánh croisant rám vàng, những cái bánh ngọt hình sừng trâu, những chiếc bánh paté chaut bóng nhẫy bơ... Nhìn món gì cũng muốn mua nhưng sau chót tụi mình chỉ chọn món bánh mì trét ba tê mà thôi. Cái vị béo, bùi hấp dẫn của những chiếc bánh mì ở hiệu Hòa Bình làm mình nhớ mãi. Bánh mì Dung mua hôm nay cũng thật ngon, nghe nói là một tiệm nổi tiếng ở đường Duy Tân nhưng với mình làm sao ngon bằng những ổ bánh mì ba tê ngày xa xưa ấy. Tụi mình vừa ăn vừa nói chuyện líu lo trong khi xe đã chạy qua bao nhiêu đường phố Đà Lạt. Từ đường Phù Đổng Thiên Vương xe chạy thẳng qua Đinh Tiên Hoàng, rồi chạy xuống đường bờ hồ Xuân Hương. Vẫn theo lộ trình xưa, xe theo đường Trần Hưng Đạo để từ từ ra xa thành phố, đi về hướng Sào Nam, Trại Mát. Đến đây tụi mình mới sực nhớ là đã quên không mua ít rau và trái cây đi biếu bà chị. Vậy là bác tài phải ngừng lại cho tụi mình vào chợ Trại Mát. Đi loanh quanh trong chợ thấy rau không tươi, trái cây cũng vậy nhưng kẹt quá đành mua ít khoai tây, cà rốt làm quà. Chiếc xe chở chúng mình lại tiếp tục lên đường. Trạm ngừng chân kế tiếp là Trạm Hành. Tụi mình ghé thăm gia đình anh Ẩn. Ngôi nhà anh cất trên một ngọn đồ̉i, nhà thật đẹp, cách trang trí rất mỹ thuật. Gia đình là một trong những nhà giàu nổi tiếng trước đây. Sau tháng tư bảy lăm nông dân bị xung vào tập thể, đời sống dân chúng đi xuống tận cùng, cũng may từ ngày nhà nước Cộng Sản buông ra cho làm ăn cá thể trở lại, nhà vườn, nông dân dễ thở hơn...nhờ vậy gia đình anh khá giả lại. Không có thời gian nhiều tụi mình giã từ anh chị tiếp tục cuộc hành trình. Qua Trạm Hành đến Đơn Dương, xe từ từ đi vào con đường đèo tuyệt đẹp của Đà lạt. Lâu quá lâu rồi mình mới đi lại trên đèo này. Ngày trước mỗi lần có dịp đi Nha Trang hoặc ra Trung là bắt buộc phải đi qua đèo Ngoạn Mục. Đường đèo đẹp như tên gọi của nó, dài quanh co khúc khuỷu, nhìn từ trên xuống giống như một chú rắn khổng lồ đang trườn mình lướt đi. Hai bên đường bao nhiêu là hoa dại, dây leo quấn quanh trên những cây rừng, cơ man là quỳ vàng ẩn hiện trong những lòng thung. Thông xanh chập chùng, ngút ngàn vươn mình trong nắng. Ôi thiên nhiên bao quanh đẹp như tranh vẽ! Tụi mình say mê ngắm cảnh và chụp hình... rồi lan man nghĩ đến những tháng năm xa xưa khi có dịp đi trên đoạn đèo này. Hồi đó, hành khách được đi bằng loại xe lớn, chất đầy nghẹt người, đường thì nhỏ chỉ vừa cho hai chiếc xe lên xuống, có những khúc cua gấp thật dễ sợ, mỗi lần qua khúc quanh thấy chiếc xe nghiêng giống như muốn chuồi xuống đèo làm mình hoảng kinh. Xe đi qua những khúc quanh nguy hiểm là mình không dám mở mắt ra nhìn, chỉ biết lâm râm khấn nguyện. Giờ được đi bằng chiếc xe nhỏ do một bác tài lái chậm, cẩn thận...thêm nữa ở Mỹ mình cũng đã được đi qua những con đường còn nguy hiểm hơn nhiều nên mình không thấy sợ như trước nữa. Xe xuống gần hết đèo mình lại có dịp thấy lại những ống nước khổng lồ đã chuyển nước từ đập Đa Nhim xuống nhà thủy điện Sông Pha, nơi đây là nhà máy thủy điện đã cung cấp điện cho một vùng thật rộng lớn.
Xe bắt đầu đi qua những vùng ruộng vườn, đã thấy xuất hiện khá nhiều dừa, mình biết tụi mình đang tiến từ từ đến vùng biển. Từ địa phận Phan Rang xe theo con đường mới chạy sát biển, nghe nói đường này mới được làm, đường tráng nhựa láng bóng, đường thật rộng giống như những xa lộ ở Mỹ. Đưa mắt ra ngàn khơi xa, biển xanh một màu , thấp thoáng những con tàu, những cánh buồm nhấp nhô theo sóng khiến lòng thấy bâng khuâng. Xe từ từ tiến vào thành phố, trước khi đi thăm gia đình anh Thanh, tụi mình đề nghị bác tài cho thăm biển Nha Trang trước. Bác tài cho xe đậu vào chỗ đậu xe thật sát biển. Xe vừa ngừng lại là cả bọn chạy ngay ra biển. Lấy tay che miệng làm loa mình hét thật to thi cùng sóng biển đang gào thét “ A...A....Ta đã về đây rồi biển ơi.” Trả lời mình biển tung những đợt sóng trắng xóa vào bờ. Quăng đôi dép xa xa, đặt đôi chân trần trên nền cát mịn, từng bước, từng bước mình bước đi...hồn bềnh bồng, lao xao những nỗi nhớ. “ Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya...” bài hát ngày xưa chợt vang lên trong tâm khảm. Bây giờ không là buổi khuya nhưng biển cũng mang một màu xam xám, trời cũng không mấy xanh. Biển thưa người hoang vắng lạ. Đưa mắt nhìn xa xa bên bờ biển bên kia, bãi Dương mờ mờ với những cao ốc, những hàng dương xanh mát chạy dọc bên bờ biển xanh ở ngày xưa giờ thật thưa thớt... Xa xa dãy núi sau lưng quân trường Đồng Đế vẫn ngạo nghễ uy nghi với tháng năm. Ngắm dãy núi, mình không thể quên được hai câu thơ mà ngày xưa khi đến thăm Đồng Đế đã được dân chúng ở đây truyền miệng “ Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ - Em nằm xoã tóc đợi chờ ai? ” Núi mang dáng hình anh vẫn còn đấy nhưng những người lính oai hùng xưa kia nay còn đâu? Mình có chút xót xa. Có chút ngậm ngùi. Sau Đà Lạt có lẽ Nha Trang là thành phố có nhiều quân trường nổi tiếng. Sinh ra và lớn lên trong thời chiến có nhiều gắn bó với lính. Hôm nay về đây những kỷ niệm xưa chợt gợi nhớ xót xa. Nhớ người, một thuở đã bị phạt hít đất đến lả người cũng từ thành phố này trốn lên thăm mình, chỉ để tặng một cô búp bê dễ thương trong ngày sinh nhật. Giờ thì người xưa cũng đã xa tít tắp mù khơi, chiếc thuyền nào đó mang người ra biển rồi đi mãi không về. Thăm biển, mình lại nhớ ngày nào đến thăm anh ba khi anh đang tu nghiệp ở trường Hải Quân Nha Trang. Biển đêm Nha Trang đẹp dịu dàng, hai anh em ngồi bên nhau tỉ tê tâm sự đến lúc biển thật vắng mới chịu ra về. Đi bên nhau nhiều người chắc hiểu lầm là một cặp tình nhân đang hò hẹn. Có lúc nghĩ lại, mình không hiểu tại sao anh em mình thân nhau đến thế. Anh đi lính, thư anh viết về cho mình nhiều như thư của người yêu dấu, chuyện gì cũng kể, chuyện gì cũng tâm sự . Giờ anh của mình cũng như thuồng luồng mắc cạn, như cua biển gãy càng... một thời oanh liệt vẫy vùng trên sóng nước, này chiến hạm, nọ giang đoàn chỉ còn trong hoài niệm.
Đến thăm biển Nha Trang thật vội vàng rồi rời xa với nhiều tiếc nuối, không biết bao lâu mình sẽ về thăm lại? Giã từ biển, giã từ con đường Duy Tân xinh đẹp với những hàng dừa, những ki ốt xinh xinh, xe của bọn mình tiến dần vào trong thành phố. Mình có thật nhiều bạn bè ở đây nhưng không thăm viếng một ai chỉ ghé thăm gia đình bác Ba, người bà con bên nội của mình. Bác Ba năm nay cũng đã gần chín mươi, ngoài cặp mắt hơi yếu ra trông bác thật khoẻ mạnh , minh mẫn… Bác hỏi thăm rành rọt từng người trong nhà mình. Bác có một người con trai độc nhất là anh Thanh, vợ anh quê ở Long Hương, chị thật đẹp người, tính tình cũng thật dễ thương. Vợ chồng anh Thanh thật gần gũi với bà con dòng họ nên tụi mình quý anh chị lắm. Sau lúc hàn huyên, anh chị dẫn tụi mình ra nhà hàng hải sản, chủ tiệm là bạn thân của anh nên tụi mình được dịp thưởng thức những món đồ biển thật tươi ngon. Nhớ nhất là món lẩu cù lao thật hấp dẫn Ăn uống xong xuôi anh chị dẫn tụi mình đến chợ Đầm mua sắm. Tụi mình mua thật nhiều bánh phồng và bánh tráng dẻo làm với đường vàng, mè và gừng. Bánh tráng này, hình như chỉ mua được ở đây, bao nhiêu năm rồi cái mùi vị thơm ngon này vẫn làm mình nhớ mãi, mấy chị em cũng không quên mua thêm mấy ký mực khô để làm quà cho bạn bè. Mua sắm xong xuôi, chúng mình chào từ giã anh chị.
Tiễn bọn mình lên xe, anh chị Thanh dặn dò lần sau nhớ sắp xếp ở lại Nha Trang lâu hơn để anh chị có dịp dẫn đi thăm thành phố biển đang được phát triển mạnh về ngành du lịch này. Ở đây có nhiều địa điểm đẹp được nhiều khách ngoại quốc ưa thích lắm. Những cái tên mới nghe đã thấy quyến rũ mời mọc nhưng... tiếc quá tụi mình không có đủ thời gian để thăm viếng. Lưu luyến chia tay anh chị, từ giã chợ Đầm, bác tài Lộc cho xe từ từ lăn bánh. Xe chạy, quay nhìn lại vẫn thấy anh chị đang đứng ở bến xe, vẫy vẫy đôi tay... Cảm ơn Nha Trang. Cảm ơn anh chị. Dù chỉ gặp gỡ thật ngắn ngủi hôm nay nhưng vẫn mang lại trong mình thật nhiều hạnh phúc. Hạnh phúc có lại người thân sau bao nhiêu năm dài xa cách....
( Còn tiếp )
Monday, August 29, 2011
TÔI ĐI CÂU CÁ
TÔI ĐI CÂU CÁ
- Cá chưa ăn câu mà đã giật! Chưa giật mà đã quay!
Anh Sao càm ràm mỗi lần tôi giật tuột một con cá. Tiếc quá có khi kéo cá lên gần đến cầu rồi còn bị rơi xuống.
- Đó! Đó!... Giật đi em! Cá ăn câu rồi! Giật ! giật một cái ! Quay! Quay đi em! Đúng! Đúng rồi! Dính chóc rồi ... Lần ni em làm đúng rồi… Hà! Một chú cá nục to ghê. Mi chạy đằng trời!
Anh Sao hào hứng lên tiếng. Còn tôi khỏi nói, tôi nhảy tưng tưng như vừa bắt được vàng.
- Em! Em ! Chụp hình đi! Chụp hình đi em!
- Em đang chụp hình đây! Yên chí hai anh em sẽ có những bức ảnh đẹp mà. Cô vợ anh Sao vừa cười vừa nói, vừa bấm máy lia lịa.
Nhưng điệp khúc “ chưa ăn đã giật, chưa giật đã quay” lại được anh Sao lập đi, lập lại mãi. Thỉnh thoảng anh lại la lên : “ giật, giật đi em... quay... quay ... Ồ! lại tuột rồi… ” Hẳn anh phải bực mình bởi cô học trò dở quá , học hoài cũng không thông... nhưng cô học trò tôi vẫn cười ha hả thích thú, không hề thấy quê chút nào cả... rồi vẫn tiếp tục bị ông anh la tiếp ... Chục lần tôi quay cần lên là chín lần hết mồi. Anh Sao lại phải cắt mồi mới buộc vào lưỡi câu. Mồi ở đây thì ê hề, đầu tiên là xin một ít mồi của bạn câu trước, sau khi câu được con cá đầu tiên là mình có thể cắt chú cá ra từng miếng nhỏ làm mồi. Cá mới câu tươi rói, thơm nức là món mồi thích hợp nhất. Nhờ mồi ngon và có lẽ nhờ cá nhiều nên thỉnh thoảng “ cá ngáp phải ruồi ” là tôi cũng đã giật được một vài chú cá ngây ngô khờ dại cắn vào lưỡi câu của bà thợ câu không chuyên nghiệp ...tiếng cười vui vẻ cuả tôi rộn rã vang lên, rồi tiếng chân rầm rập của cô bạn tôi và các cháu lại chạy đến chia vui, máy chụp hình lại lóe sáng... Vui với chúng tôi, mấy bà người Phi theo chồng đi câu cũng cười ròn rã phụ họa làm rộn lên một khúc cầu tàu.
Tối nay người đi câu thật đông, nội gia đình tôi và gia đình bạn cũng đã trên mười người. Hai người thợ câu chính, còn lại là thợ “ vịn ”. Hăng hái nhất là các cháu nội, ngoại của anh Sao, lăng xăng chạy tới chạy lui giữa hai điểm cắm câu để gỡ cá và chuyển mồi câu hoặc ngồi tẩn mẩn đếm xem được bao nhiêu chú cá. Trên cầu, người đi câu đứng sát rạt, có người dùng hai, ba cần câu, có người chỉ mỗi cần câu nhưng mắc cả năm bảy lưỡi câu, trên dây cước còn có đeo một đèn phao sáng lấp lánh. Trong đêm, biển tối om nhưng nhờ những chiếc đèn lân tinh ta có thể nhìn thấy đèn phao kéo lún xuống nước khi cá cắn câu, gặp lúc ấy chỉ cần kéo mạnh rồi bắt đầu quay cần lên là anh chị cá tội nghiệp nào đó sẽ tiêu đời. Cá giật lên, quẫy tưng tưng, mấy thợ câu chuyên nghiệp đeo bao tay sẵn, cầm chặt chú cá rồi lẹ làng tháo ra khỏi lưỡi câu...Nghe nói những hôm trời nóng bức cá thật nhiều, bởi vậy khi đi dạo vòng vòng xem, nhìn vào những thùng chứa, tôi thấy đầy ắp cá. Nghe nói hôm nào câu được nhiều, họ đem ra chợ bán. Kết quả của chuyến đi câu, dù đến muộn mãi tám giờ tối chúng tôi mới đến nơi, vậy mà cũng đã rinh được trên bốn chục chú cá, đa số là cá nục ( may mắn cô học trò tôi câu được những bốn con.) Với tôi, kết quả ấy thật là tuyệt vời . Tôi không ngờ mình cũng đã biết cầm cần câu, biết quay cần lia chia dù trước đó không bao giờ nghĩ rằng mình biết cầm cần, biết quăng cần ra xa, biết thâu dây lại. Tôi cũng đã tiến bộ sau buổi đầu tiên quăng câu.
Chúng tôi trở về nhà khoảng một giờ sáng, cá được bỏ vào ngăn đá dành cho tôi mang về nhà khoe chiến lợi phẩm, sau đó cả nhà xúm lại thanh toán nồi mì Quảng tuyệt chiêu, do bạn tôi đã lụi cụi nấu suốt buổi chiều. Ăn no, uống say chúng tôi đi ngủ lúc ba giờ sáng. Giấc ngủ thật ngon đến sau đó.
Những giờ phút vui vẻ, ấm áp tình thân với gia đình anh Sao qua mau. Khó có thể quên buổi câu cá nhớ đời với bài học vỡ lòng mà anh dạy tôi đã trở thành câu chuyện kể lý thú của các con anh, con tôi ( các con anh đều gọi tôi bằng mẹ) “ Mẹ tuyệt vời quá cá chưa cắn câu đã giật, chưa giật mà đã quay ”. Nghĩ đến hoạt cảnh ở “ trường câu ” với ông thầy dạy hết lòng với học trò, tôi bật cười. Hạnh phúc bao quanh tôi. Tôi đã có biết bao người thương mến bên mình. Cảm ơn anh, cảm ơn người bạn đời của anh cũng là cô bạn nối khố mà tôi thương yêu nhất, cảm ơn các con trai, gái của mẹ. Cảm ơn biển rộng muôn trùng đã cho tôi có dịp thi thố tài năng : Tôi đã câu được cá.
Forget me not Dalạt
Monday, August 22, 2011
Monday, July 25, 2011
Subscribe to:
Posts (Atom)