Friday, April 15, 2022

 

   

                      MỘT  LẦN  VỀ  THĂM

Ngày..... tháng.....năm...

     . Mình đang chuẩn bị cho chuyến xuôi Nam, về miền sông nước Hậu Giang, một trong những phần đất mà mình yêu mến nhất trên quê hương. Thoạt đầu mình và Mi bàn tính sẽ thuê một chiếc xe.  Chúng mình sẽ ghé Vĩnh Long thăm bạn Mi. Sau đó về Châu Đốc thăm gia đình Nhàn, Sậy, thăm viếng miếu Bà...Nếu  còn thời gian sẽ đi thăm vài tỉnh lân cận Châu Đốc như Rạch Gía, Hà Tiên nhưng qua sự sắp xếp của Nhàn chuyến đi của mình bị đảo lộn hết. Từ Nha Trang vừa về tới Sài Gòn chưa kịp nghỉ ngơi, cô bé Nhàn đã điện thoại lên cho biết,cô bé sẽ cho xe  đến đón ̀vào bốn giờ sáng  ngày mai.. Vậy là chẳng đặng đừng,  chúng mình vội vàng đi ngủ để hôm sau dậy sớm. Chuyến đi này có Sa bạn thân của Mi ở Đà Lạt xuống cùng tháp tùng với chúng mình.
         Chưa tới bốn giờ điện thoại đã reo vang, cô bé Nhàn và Huệ bạn Nhàn đã chờ dưới lầu khách sạn.  Làm vệ sinh thật nhanh. tụi mình ba chân bốn cẳng xuống lầu. Ra đi khi trời chưa sáng, trời mát mẻ thật dễ chịu, đường phố thưa vắng xe cộ  nhưng chưa hưởng được sự thoải mái bao lâu đã thấy kinh hoàng vì một mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Nhàn bảo  là do cường triều. Nước thuỷ triều dâng theo các sông lạch hoà̀ với nước cống bẩn đưa vào thành phố, mang theo những mùi thật khó chịu. Điều này xảy ra khá lâu rồi nhưng chính quyền không thấy làm gì với hiện trạng này cả !   .
         Chiếc xe đò nhỏ mang tụi mình ra khỏi thành phố. Mình lại được nhìn những đồng lúa vàng óng ả dưới ánh ban mai, nhìn những cánh cò trắng bay là đà trên những cánh đồng chạy dài xa tít tắp, hết ruộng lúa lại đến vườn cây. Dừa xanh ẻo lả chen lẫn những cây mận xum xê trái đỏ tươi quyến rũ...Qua bao nhiêu năm miền Nam có đổi thay nhưng không thay đổi chóng mặt như Sài Gòn, như những tỉnh và những thành phố miền Trung mình đi qua.

            Đến điạ phận Sa Đéc, trước khi xuống phà để qua Bến Dinh thăm dì Hồng, Bác tài trở tính nhất định không chịu đi kêu phà nhỏ ,xe  đi không an toàn nhưng thật ra mình biết ông viện cớ muốn về Tân Châu sớm để  chở khách hẹn . Mình đã nghe loáng thoáng ông nói điện thoại với khách. Thật khó chịu với lối làm ăn tắc trách này vì Nhàn đã thuê bao theo lộ trình giao hẹn. Tuy bất bình tụi mình vẫn phải nhượng bộ để Mi và Sa theo Huệ về Tân Châu trước. Mình và Nhàn qua phà đến Bến Dinh thăm dì Hồng. Chiếc phà nhỏ cũng chở được vài ba xe hơi và vài chục người. Phà rẽ sóng, máy tàu kêu xình xịch ... cái âm thanh quen thuộc của miền Nam sông nước gợi nhớ những chuyến đò ngày xưa cùng chàng lênh đênh suốt dọc con sông Cửu Long.

              Phà ghé Bến Dinh, mọi người lục tục lên bờ. Mình và bé Nhàn đi cuốc bộ về nhà Dì Hồng. Dì Hồng mừng rỡ đón tụi mình vào nhà, thưởng cho mỗi đứa một ly nước dừa rồi dẫn mình lên lầu thắp nhang cho hai bác, ba má của dì, cũng là ba má của người mà một thời mình thương yêu. Bên di ảnh của hai bác là một lô hình của người từ bé đến lớn. Hình nào cũng khôi ngô tuấn tú. Đẹp nhất là hình ảnh chàng oai hùng trong màu áo Biệt Động với chiếc mũ nâu nhớ đời !. Người tự hào đẹp trai, người tự tin sống thọ với mắt lớn, tai dài... Người thừa hưởng chiều cao của ba, vẻ mặt hiền hậu của mẹ. Bộ anh đây sao? Người mà mình đã có một thời yêu mê đắm, tưởng không bao giờ phải xa cách chia ly. Bộ anh đó sao? Anh đi đâu để giờ này hình anh được đặt trên bàn thờ cho em chào lạy. Thắp một nén nhang mình cầu xin cho ba má chàng bình yên nơi cõi xa xăm ấy. Mình không cầu xin gì hết cho chàng, chỉ cầu xin tâm hồn mình an lành...Trước khi rời Bến Dinh dì Hồng còn dẫn mình ra thăm khu mộ của dòng họ. Thật tủi thân cho chàng, trên ngôi mộ song thân ở hàng cuối có ghi tên họ, ngày sinh của anh nhưng không có tên ngày chết. Cậu con út mà ba má cưng yêu đã về nép bên mẹ cha... Anh đã đời đời ở bên những người  yêu dấu!
            Dì Hồng cùng với tụi mình tiếp tục xuôi Nam, khi thì đi phà, khi thì lên bờ dùng xe khách, Không nhớ mình đã đi qua bao nhiêu nơi nhưng có những điạ danh khó mà quên được như Năng Gù, Thuận Giang, chợ Vàm, Long Sơn.... Mình cũng muốn xoá ra khỏi bộ nhớ những cái tên quen thuộc này nhưng không hiểu sao đầu óc mình vẫn khắc sâu, như dấu ấn ấy đã nằm yên nơi đó. Như nỗi nhớ chàng vẫn quay quắt không nguôi!
             Đến Tân Châu, tụi mình gặp lại Mi và Sa ở nhà nhỏ Huệ. Trời đã trưa, cả bọn kéo ra quán, gọi những món đặc sản miền Nam, canh chua cá bông lau, ếch xào sả ớt, tôm nướng vỉ, cánh gà chiên nước mắm...Cả ngày bôn ba, đói bụng, tụi mình ăn uống thật ngon lành, khi trả tiền mới thấy thức ăn ở đây ngon và rẻ.
             Từ Tân Châu tụi mình đi xe ôm về Kinh Xáng. Đến đây là chặng cuối trong ngày. Về nhà Nhàn, căn nhà xưa của ngoại đây rồi. Căn nhà bao nhiêu năm vẫn không thay đổi mấy. Ngôi nhà sàn cất cao đề phòng lụt lội, rộng lớn, cột kèo cứng chắc trơ lì với năm tháng. Hành lang trước nhà vẫn mắc những chiếc võng đưa. Quanh nhà, hàng dừa lả ngọn, mang đầy những quả. Mình không biết là đây là những cây dừa năm xưa hay là những cây dừa mới trồng sau này?
              Cất hành lý xong việc đầu tiên của mình là chạy nhanh ra con kênh sau nhà. Dòng kênh vẫn ngàu đục phù sa. Lục bình vẫn bập bềnh trôi trên sóng nước....Hình như qua nhiều năm, con kênh có rộng hơn vì bờ kênh bị đất chuồi và sạt lở. Trên dòng kênh những chiếc thuyền nhỏ chèo tay, thuyền máy đuôi tôm đập dìu qua lại, khuấy động con kênh... Phía bờ bên kia ngày xưa là bãi đất trồng bắp, giáp mé kênh, dừa nước, điên điển mọc um tùm... Tụi mình đã từng chèo xuồng qua đó bẻ bắp, những quả bắp nghe nói lấy giống từ Ban Mê Thuột màu vàng ngọt thơm lại dẻo, còn hoa điên điển màu vàng hái về nấu canh, nấu lẫu và ăn sống ghém với những món rau hái ở đồng, chấm với nước cá rô kho... Chao ơi  ngon quá! Cứ làm mình nhớ mãi....
             Đi vòng vòng dọc theo bờ, ngắm nhìn hoạt cảnh trên kênh một lúc. Mình quay lại bến cũ. Ngồi dựa vào gốc dừa già cỗi dõi mắt nhìn theo đám lục bình trôi trên sóng nước. Nỗi nhớ quay quắt oặn lòng người trở lại! Nơi này ngày ấy, hai đứa tay đan tay, đầu tựa đầu, mộng mơ mong ước tràn đầy. “ Ước gì thời gian ngừng trôi, ước gì em được ngồi bên chàng mãi mãi ...” Ước mơ của chàng thực tế và đời thường hơn. “Anh chỉ muốn một ngày hoa nắng ngập trời, anh sẽ đón em về trên chiếc thuyền hoa. Em xúng xính trong bộ áo cô dâu vào ngày vui pháo nổ rộn ràng, rồi em sẽ buộc chặt đời anh, sẽ cùng anh đi qua bao nhiêu vùng sông nước...” Nhưng ước mơ chỉ là mơ ước chả bao giờ thành hiện thực... Anh không biết giờ này đang ở nơi đâu? Rừng sâu? Núi cao? Hay đang ở một một thế giới vô hình nào đó, đang đau buồn nhìn em nhưng không thể nói. Ờ, nếu có một thế giới mới ngoài cõi đời này, mình chỉ muốn được thấy lại chàng một lần, dù chỉ đứng thật xa để nhìn thôi...
              Một chuyến phà cặp bến, tiếng xập xình của động cơ thật lớn lôi mình trở lại với hiện tại. Thẩn thờ đứng lên, bỏ lại chốn kỷ niệm sau lưng. Mình quay lại nhà. Nhàn đang thái thịt. Dì Hồng bóc vỏ tôm, Mi và Sa phụ rửa rau chuẩn bị bữa cơm chiều. Tự cho phép rảnh rang. Mình lên nhà trên làm quen với lũ cháu của Nhàn, vui đùa với các cháu. Tuổi thơ rất hồn nhiên, mới quen trong khoảnh khắc mà tưởng như đã quen lâu. Nắm tay mình, tụi nhỏ kéo mình ra vườn trước . Để bọn trẻ chơi rượt bắt với nhau. Mình lặng lẽ dạo quanh, lặng lẽ đếm từng gốc dừa, gốc bưởi trong vườn cây của ngoại. Hương bưởi nồng nàn thơm ngát lan tỏa trong không khí. Cuối vườn một bụi khế với hoa tím nhỏ xinh xinh, vài cây so đũa trĩu quả...Khu vườn ngoại mát rượi nhờ những tàn dừa cao và nhiều cây quả bao quanh. Cảnh sắc miền quê sao thanh bình êm ả quá.! Chợt nghĩ phải chi mình được chọn nơi này sống những ngày yên vui quên mọi lợi danh thế tục thì hay biết bao nhiêu?
              T
ối đến.... có một người ngồi đong đưa trên chiếc võng âm thầm nhớ về ngày xưa thân ái rồi lặng lẽ khóc thầm.
       Ngày... tháng...năm
             Ở một đêm tại Kinh Xáng, sáng nay tụi mình lại tiếp tục ra đi. Nhàn kêu thêm Hùng, bé Ngân, Bé Ánh... mỗi người một chiếc honda chở tụi mình đi Châu Đốc. Hùng chở mình, Ánh chở Mi, Ngân chở Sa còn Nhàn chở Dì Hồng. Xe qua chiếc phà Châu Giang xuôi dòng qua Châu Đốc. Đến nhà Sậy cô bé bắt ăn sáng rồi chờ xe đến chở mọi người đi Ba Chúc. Chuyến đi này có thêm Tường Vi con dâu của Sậy cùng với một tài xế và người bạn của ông cũng tháp tùng. Rời thành phố Châu Đốc xe chạy từ từ qua những vùng đất tương đối khô cằn. Nhà cửa ở đây nhỏ bé nghèo nàn ít có sự thay đổi dù đã qua mấy chục năm đổi  thay chế độ. Trên đường đi mình thường gặp những chiếc xe đạp chất đầy mía đỏ do những thanh niên trẻ hì hục đẩy, không biết họ trồng mía ở đâu chứ hai bên đường không thấy vườn mía. Dọc bên đường thỉnh thoảng có những quán nhỏ treo vài ba chiếc võng , trước quán chất đầy trái thốt nốt để khách ngưng lại uống nước nghỉ mệt.

             Đến điạ phận Ba Chúc mình phải vận động toàn bộ nhớ để nhớ lại rằng chỗ nào, nơi đâu mình đã đặt chân tới nhưng mình chịu thua. Chỉ có khi xe ngưng lại trước ngôi chợ, trước cổng đề năm xây dựng “1985”, xây sau khi mình đến những mười năm. M̀nh mới nhớ đây là tiền thân ngôi chợ nhỏ năm nào mình đã từng lang thang ăn hàng, đã được thưởng thức món hủ tiếu Nam Vang tuyệt vời... và chính nơi đây người phía bên kia đã đặt chất nổ để giết chàng, may mà lúc đó  chàng bình yên. Mình đã một phen hú hồn cảm tạ Trời Đất. Vậy mà...cuối cùng có ai bảo vệ được chàng đâu hở !?

 
              Thăm qua ngôi chợ xong tụi mình tiếp tục cuộc hành trình đi xem nơi ghi lại tội ác của Khờ Me đỏ. Họ đã vào thị xã này giết hàng loạt mấy ngàn người vào năm bảy tám. Hàng ngàn đầu lâu chất đống ở đây. Mi và một người vài người không dám vào xem vì hãi sợ. Mình thì vào vái lạy nhưng không dám chụp hình. Cảm giác lành lành ở sóng lưng. Nhớ năm Khờ Me tràn sang Việt Nam mình còn ở bên đó, chị Chín viết thơ kể lại mà kinh hoàng. Bọn lính Khờ Me đỏ   tràn sang bắt dân tụ tập ở chùa rồi dùng dao, mã tấu chém đại trà, chỉ có một số người may mắn nhanh chân trốn vào núi là thoát được. Vào thời điểm trước đó vài tháng, trong dịp về thăm Nhàn, được đi thuyền trên dòng sông Cửu. Mình cũng đã từng thấy thật nhiều xác người trôi trên sông khi quân Pôn Pốt giết chính dân họ thả trôi trên dòng nước. Khi xác tấp vào bờ, người dân hai bên sông đem vào chôn cất. Mình không thể tưởng tưởng con người với con người với nhau mà họ ác độc mất nhân tính đến vậy. Hôm nay đến thăm tội ác của bọn họ, mình hối hận là đã đến xem, thà không thấy để nỗi suy nghĩ và ám ảnh khỏi lảng vảng bên mình. Gởi một ít tìền để mua hoa và nhang khói cho bao vong linh vô tội chết oan khuất nơi đây. mình rời xa nơi này với lòng trĩu nặng buồn thương. Hận thù, chiến tranh luôn đi liền với mất mát và chết chóc!
               Chặng đường cuối cùng của mình khi tới Ba Chúc là ghé thăm chị Chín. Giờ chị sống trong một ngôi chùa gần núi. Chị đã trên sáu mươi, tóc bạc phơ nhưng nước da chị vẫn rất đẹp. Những ngày rằm, mùng một các đạo hữu đến thăm chùa. Chị nấu ăn, châm nhang đèn hoa quả. Gặp chị sau mấy mươi năm xa cách, nhắc lại chuyện xưa để thấy đời sống vô thường, con người sống với khổ đau nhiều hơn hoan lạc. Anh Chín đã qua đời. Chị sống với đứa con duy nhất của hai người nhưng tâm thần cháu không được bình thường. Cầm chặt tay mình, chị thủ thỉ “ Nếu chú ấy biết được, em sống như vầy hẳn chú vui lắm ” Mình ứa nước mắt khi chị gợi lại dĩ vãng, cái dĩ vãng quá đẹp để mình khó quên. Thắp nhang lạy Phật chúng mình ra sau chùa lên ngọn núi đá chụp hình, nhảy nhót từ phiến đá này qua phiến đá khác, Mi và mấy đứa bạn vui vẻ giữa thiên nhiên nên thơ bao quanh, nói chuyện líu lo, rồi đem trái cây ra ăn, những quả nhãn Tân Châu ngọt lịm, trái nhỏ xíu nhưng cơm thật dày và hột tí nị. Lựa một phiến đá bằng phẳng  mình ngồi xuống đưa máy hình zum ra xa, những ruộng lúa xanh trải dài đến cuối chân mây. Xa xa là những ngôi nhà tranh với những hàng tre bao quanh rủ bóng, vài chú gà trống chậm rãi tìm thức ăn, lục tung đám cỏ lá tre, chả biết chúng tìm được gì trong đó?. Thả tầm mắt xa hơn, sau rặng núi là nước bạn mà xưa kia những người bạn láng giềng thỉnh thoảng tràn sang cáp duồn để cho “ người” phải ra sức bảo vệ. Dù nơi đây không phải là ngọn núi xưa kia mình đã được đến nhưng sao mình vẫn thấy thật quen thuộc. Giọng chàng vẫn như thoáng đâu đây ngọt ngào đầm ấm : “ Nhìn xa chỗ kia là biên giới đó em. Biên giới của nước mình và nước bạn chỉ là một dãy núi dài và nếu muốn mình có thể băng qua....” Mình ngậm ngùi tự nghĩ: không biết biên giới giữa mình và chàng hiện giờ dài bao nhiêu đây hở?
              Quá trưa mình rời Ba Chúc, cảnh cũ lạ xa, người xưa mất hút cho mình những luống ngậm ngùi...Trên đường về xe chạy nhanh hơn, bác tài chạy nhanh để kịp đến một quán ăn được đồn đãi là nổi tiếng. Ở đây đặc biệt là dùng toàn thịt bò, kiểu bò bảy món. Những món ăn nướng toàn dùng vĩ nướng trên than, thịt bò lại tươi, ăn rất ngon và giá cả cũng phải chăng. Chè chén no say, chúng mình chạy về, tiếp tục đển thăm miếu Bà. Miếu Bà ở Châu Đốc thật nổi tíếng. Hàng năm đến Lễ Viá Bà là bao nhiêu người đến chiêm bái Bà Chúa Sứ. Mình đến không nhằm Lễ Vía Bà nhưng cũng khá đông người đến thăm. Nghe nói mọi người đến cầu nguyện, cầu xin việc làm ăn, cầu xin sức khoẻ đều thuận lợi. Có nhiều gia đình mang đến cúng thường xuyên. Trong mâm cổ dâng cúng mình thấy bao nhiêu là hoa quả và có cả heo quay nữa. Tụi mình vào miếu thắp nhang xong đi quanh quanh chụp hình, nơi nào đi qua mình cũng ghi lại một vài tấm hình làm kỷ niệm.
               Trở lại thành phố Châu Đốc đã hơn sáu giờ chiều. Hẹn với Sậy ở lại Châu Đốc một đêm để thăm thành phố kỷ niệm sau bao nhiêu năm trở lại nhưng không hiểu sao trong mình chỉ muốn rời xa nơi chốn này ngay. Buồn quá! Buồn đến dại người!…Kỷ niệm ùa về. Phố trưa Châu Đốc với bụi cay vướng mắt đỏ kè khiến cho chàng phải đi tìm thuốc nhỏ. Quán chè sát dòng sông hai đứa tỉ tê tâm sự không muốn về và cuối cùng cuốn phim “ Vĩnh
Biệt Tình Hè ” ngày ấy như một điềm mang xui xẻo đến. Không muốn đi tìm lại một thoáng hương xưa, lấy lý do không có thời gian chuẩn bị cho chuyến về lại Mỹ, tụi mình nhờ Tường Vi gọi người quen mua vé trở lại Sài Gòn. Khoảng nửa tiếng sau xe đến tận nhà đón

.             Chào giã từ gia đình Sậy, lưu luyến chia tay với các anh chị em đã ân cần tiếp đón tụi mình trong mấy hôm nay. Chào giã từ thành phố thân yêu với một thời hoa bướm cũ, nước mắt đoanh tròng mình buồn bã bước lên xe. Nhàn ôm chặt mình trong vòng tay rồi dúi cho mình một hộp giấy. Em thì thầm: “ của chị đó ”
              Lên xe, mình chọn băng ghế thứ hai sau bác tài, Mi và Sa ngồi bên cạnh. Lẳng lặng mình đem món quà của Nhàn gởi ra xem. Một lá thư nhỏ do Nhàn viết để trên cùng “ Chị ơi, trước khi cậu đi đã gởi cho em cất giữ những lá thư này. Cậu đã rời xa. Em nghĩ chị sẽ thật ngạc nhiên khi có lại những gì chị đã trao gởi cậu.” Những lá thư với phong bì màu xanh do mình tự tay làm lấy được cắt gọn gàng đề ngày tháng năm theo thứ tự nhận được làm lòng mình chùng xuống. Cảm ơn người đã trân trọng giữ gìn... Mình đọc lại những gì đã viết mấy mươi năm về trước trong bóng tối chập choạng của buổi chiều đang đến. Nước mắt nhạt nhoà rơi...
Forget Me Not Dalat


 

 

 

 



Top of Form

 

Bottom of Form

 

 

©

 

 

                                 

 

                ©

 

                               YÊU MÀU ÁO TRẬN

 (Viết cho T.)                                     

  Mười bảy tuổi Liên đã biết yêu. Mẹ thật buồn khi biết Liên chọn người yêu là lính, lại là lính thứ dữ nữa chứ! Ba mẹ rất thương Liên, âu lo khi nhìn thấy con mình ưu tư nhiều hơn, ít nói, ít cười hơn trước. Anh hai chỉ nhẹ nhàng khuyên : “ Anh nghĩ, em nên gác chuyện tình cảm lại, lo học trước đã. Sang năm thi tú tài rồi. Anh chặc lưỡi nói thêm: “Biết vậy anh không cho nó lên đây .” Liên ôm vai anh nũng nịu :  “ Bộ anh không thấy anh Trí thật hiền, đẹp trai và thật oai hùng, quả cảm sao ? Đáng lý anh phải khuyến khích em phải yêu anh ấy nhiều hơn, quan tâm anh ấy nhiều hơn. Để anh ấy vững tin chiến đấu nơi sa trường, mang yên vui, thanh bình cho hậu tuyến. Phải không anh ? ” Anh hai kí đầu Liên rồi xuống giọng : “ Chịu thua cô bé rồi. Nhớ là không được chểnh mảng việc học đó nghe !”

Mơ màng ...Liên hồi tưởng lại buổi đầu gặp Trí. Hôm ấy, sau buổi tan trường, chờ hoài không thấy anh Hai đến đón. Liên lững thững đi về một mình, ôm trong tay chiếc cặp đầy ắp sách vở. Vừa đi Liên vừa càu nhàu : “ Tức thật, để về nhà anh “ biết” với em. Đang thẩn thờ lê bước, bỗng “xịch” một chiếc xe honda đậu sát cạnh nàng. Một giọng nam thật ấm áp, ngọt ngào cất lên : “ Cô bé ơi! Sao em mang nặng  dzậy. Lên đây anh đưa em về nè .”  Ngước mắt nhìn lên : “ Ồ, một anh lính mới về thành phố ”. Nước da anh sạm đen, đôi mắt thật sâu. Bộ đồ rằn ri anh bận cùng chiếc mũ nâu. Liên biết ngay là lính biệt động. Liên nguýt dài không  trả lời, nàng thầm nghĩ: “ Lại cái mửng của mấy chàng đi theo tán tỉnh, lúc nào cũng đòi chở về nhà . Đừng có mà mơ bạn ơi...” Chàng trai vẫn lẽo đẽo theo sau . “ Cô bé Liên ơi. Cô có biết anh Việt không ?” Liên giật mình : “ Uả sao anh lại biết tên em, lại biết cả tên anh Việt nữa  ” Anh bật cười : “ Nãy giờ chọc bé thôi, anh là Trí, bạn của anh Việt nè. Anh Việt sai anh đi đón em. Anh đã cố ý mặc áo lính thế này mà em không nhận ra anh sao ? ’’- “ Xin lỗi anh, em tưởng cuối tháng anh mới lên chứ, thêm nữa hình anh chụp chung với anh Việt đâu giống anh lúc này .” Trí không trả lời, hối Liên lên xe . Anh ra lịnh : “ Ôm chặt eo anh đi , lính quen phóng xe nhanh lắm đấy .” Liên lẩm bẩm: “ Thật đáng ghét . Chưa chi đã muốn bắt nạt mình rồi.”

Trí là bạn thân của anh hai, hai người quen nhau lúc anh hai  về Sài Gòn học hai năm cuối  ở Võ Trường Toản. Đậu tú tài toàn, anh trở lại Đà Lạt học Chính Trị Kinh Doanh. Anh Trí  cũng thi đậu nhưng lại xin vào trường Sĩ̃ Quan Thủ Đức, mặc dù anh có đủ điều kiện hoãn dịch vì̀ lý do gia cảnh( nhà anh  chỉ có hai người con trai , anh của Trí lại là Thương phế binh ) Sau những tháng miệt mài ở Quân trường, mãn khoá học, anh gia nhập binh chủng Biệt Động, phục vụ Tiểu đoàn 43 Biệt Động Quân. Ra trường nhằm lúc chiến trường trở nên khốc liệt ở khắp mọi nơi. Là binh chủng thiện chiến , anh hành quân liên miên, cả năm trời mới được phép dài hạn. Cầm giấy phép trong tay là anh tức tốc về  Cần Thơ thăm nhà hai hôm. Sau đó mua vé đáp xe về Sài Gòn, rồi đi thẳng lên Đà Lạt thăm gia đình Liên, thăm thành phố sương mù mà anh thường  ao ước được thăm viếng. Anh đã được gia đình Liên ưu ái dành tình cảm thân thiết như cật ruột. Ba má Liên xem anh như anh Việt. Má nấu những món ăn ngon đãi đằng, quan tâm chăm sóc anh như chăm sóc đứa con ở xa mới về thăm cha mẹ. Ngày ngày, Trí thế bạn đến trường đón Liên sau giờ tan học. Cuối tuần cả nhà tổ chức đi picnic, đi thăm những thắng cảnh của Đà Lạt. Chàng trai Biệt Động thấy mình ngẩn ngơ với thiên nhiên xinh đẹp bao quanh mình, với tình cảm gắn bó thân thương của gia đình bạn và nhất là ...Trí đã chẳng đặng đừng nghĩ đến cô bé Liên liến khỉ, xinh xinh, má hồng duyên dáng. Cô đã hớp hồn anh tự lúc nào mà anh chẳng biết. Riêng Liên, cũng thấy tim mình  rung động bởi   chàng  lính chiến ấy.

                 Hai  tuần phép qua thật nhanh, Trí trở về đơn vị mang theo mối tình chớm nở với cô nữ sinh xứ hoa đào. Những ngày phép ở Đà Lạt là những tháng ngày hạnh phúc nhất của anh. Anh thấy nhớ nhung , vương vấn thật nhiều, nhưng đời lính rày đây mai đó, ngày đêm anh bận rộn hành quân truy sát giặc. Bước chân  trải dài  từ Vĩnh Xương, qua Tịnh Biên, Ba Chúc.... Dù bận rộn liên miên anh vẫn không quên thư đều cho  Liên. Quà anh tặng nàng là những cánh hoa xinh anh hái và ép được trong những lần hành quân. Anh gỡ cả phù hiệu có hình con cọp nhe hàm răng mười ba cái nhọn hoắt  gởi tặng nàng. Anh viết: “ Gởi cho em tấm phù hiệu của binh chủng  anh đó. Biết không? Anh dữ ghê lắm !...và cũng ghen vô cùng!.. Nhớ đừng quen ai ngoài anh nghe em!!”

                            Liên thương yêu anh, trân trọng gìn giữ những gì Trí trao tặng. Thơ anh đến, Liên cất vào một chiếc hộp thật xinh, lúc nhớ anh nàng lấy ra đọc lại. Cuộc chiến càng ngày càng sôi động, anh càng bận rộn quân hành. Nghe tên những địa danh anh đi qua, Liên cảm thấy như đã biết từ lâu , nghe quá thân thương , gần gũi . Nàng không bỏ sót một buổi phát thanh nào của quân chủng Biệt Động. Nàng chờ đón giờ phát thanh mỗi tối thứ năm như mong đợi thơ anh. Liên  buồn vui  theo từng giờ theo dõi ...những bước chân của đồng đội anh, những người lính mũ nâu oai hùng trên khắp nẻo đường đất nước. Bộ áo trận rằn ri bạc màu hoặc  chiếc mũ nâu... nào  đó lạc về thành phố, Liên cũng thấy rộn ràng vui...Thương yêu anh, Liên càng ráng học hành, ráng giữ nụ cười tươi để ba mẹ khỏi lo âu.  Nhưng đêm từng đêm, Liên trăn trở nghĩ đến người yêu đang băng rừng lội suối, đang giữ chặt tay súng ở một góc rừng, một con suối, một thôn xóm xa xôi nào đó để cho mọi người có được một giấc ngủ yên lành. Liên thấy yêu những người lính vô hạn.

                 Cuộc sống của Liên càng có ý nghĩa hơn, Liên đã cùng bạn bè thường xuyên đến bịnh viện thăm những thương bệnh binh, xoa dịu nỗi đau thương, mất mát của các anh và... cũng chính nhờ vậy Liên thấy nguôi ngoai nỗi nhớ người yêu thật nhiều.

                Muà xuân bảy mươi lăm đến cùng với tình hình chiến sự mỗi ngày mỗi thay đổi. Cộng quân mở những đợt tấn công lớn nhỏ liên miên, Trí ít thư về. Liên lo buồn cho anh, người ốm, hốc hác đi trông thấy rõ. Tin tức từ chiến trường đưa về toàn là tin dữ. Tháng hai năm bảy lăm, cộng quân đã nhiều lần tấn công Ban Mê Thuột. Tháng ba, bảy lăm, Ban Mê Thuột rơi vào tay cộng quân. Dân miền Trung bắt đầu di tản. Mọi người bỏ nhà cửa, ruộng vườn bồng bế nhau ra đi. Trên quốc lộ Số Một từng đoàn xe cộ, người đi bộ, hoảng loạn tìm đường tiến vào phiá nam. Đã có những lời đồn Việt Nam sẽ phân chia ranh giới. Từ Đồng Nai vào Nam sẽ thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa. Từ Đồng Nai trở ra sẽ thuộc quyền kiểm soát của Cộng Sản. Mọi người hoang mang giữa bao nhiêu tin đồn. Kinh nghiệm của lần di cư “Năm Tư” ai cũng muốn thoát chạy về phương nam. Ngày hai mươi bảy, hai tám...tháng ba, dân Đà Lạt  lục tục di tản. Gia đình Liên phân vân giữa đi và ở? Bỏ lại xóm làng, bỏ lại Đà Lạt dấu yêu mà đi sao? Nhưng nỗi thôi thúc  tự do lớn mạnh... Liên chạy quanh tìm phương tiện di chuyển cho gia đình, chạy xuống ga vào trạm vé Hàng Không tìm mua vé thì hãng đã đóng cửa. Những hãng xe đò đã ngưng hoạt động từ lâu. Mạnh ai người đó chạy. Giờ phút ấy chỉ có những nhà có xe riêng mới có thể ra đi. Liên thẩn thờ trở về nhà....Má Liên đang gom vội cho anh Việt vài bộ đồ cùng những vật dụng cần thiết để anh cùng anh Long và anh Phúc ra đi với chiếc xe Honda cũ kỹ của anh Long. Má ôm anh khóc ròng, Liên cũng không ngăn được nước mắt ...còn Ba ngồi gục đầu trên chiếc sofa không nói được lời nào. Ông ân hận đã không nghe lời của anh Việt ra đi ngay từ lúc đầu chộn rộn. Chờ cho xe của các anh chạy khuất xa trên con đường vô định. Mẹ vào nhà thắp nhang cầu nguyện xin cho các anh về đến Sài Gòn bình yên...

Tối 31 tháng 3... 1975

                 Những tiếng nổ dữ dội phát ra từ trường Võ Bị . Ai cũng nghĩ là kho đạn nổ ...Mãi đến sáng ngày hôm sao vẫn còn rải rác những tiếng nổ xen lẫn những tiếng súng đó đây. Một số dân chúng vẫn tiếp tục chạy theo hướng Phan Rang. Thành phố ở lại không người làm chủ hỗn loạn, cướp bóc nổi lên khắp nơi. Bọn du thử du thực xách súng chạy đến những ngôi nhà  vắng người, bắn phá cửa khóa chạy vào hôi của. Liên sợ hãi thu mình trong phòng cầu nguyện cho bọn ác ôn đừng đến nhà nàng, cầu cho Anh Việt và các bạn đi đường bình yên, cho Trí đừng gặp những bất trắc...

                  Chiều ngày một tháng tư quân Bắc việt mới đến Thành phố. Từ đó Đà Lạt hoàn toàn lọt vào tay Cộng Sản.  Liên mất hẳn liên lạc với Anh Việt, với Trí...Tháng tư năm bảy lăm, chấm dứt đời lính của Trí, của các bạn đồng ngũ, của những người đồng chung chiến tuyến. Biết bao chiến sĩ đã bỏ mình trên khắp chiến trường, cố gắng chận lại bước chân của quân miền bắc. Một số vượt biển ra đi, đa số bị dồn vào trại cải tạo. Trí của nàng đã bặt vô âm tín. Liên tìm về cả những nơi chàng đóng quân xưa, tất cả đều đổi thay. Tìm về Cần Thơ, song thân anh cho biết: Ngày Sài Gòn thất thủ cũng là ngày cuối cùng gặp mặt đứa con yêu. Anh đã từ đơn vị trở về chào cha mẹ ra đi không hẹn ngày trở lại. ..Bà khóc  mếu máo kể : “ Nó về vội vàng rồi đi ngay.Không hề nói cho Bác biết là nó đi đâu. Có thể nó đã bị bắt đi học tập hoặc có thể bỏ nước ra đi, hoặc nằm bụi nằm bờ đâu đó .” Mẹ Trí trao cho nàng xấp thơ Trí viết cho nàng. Liên đau buồn nhận thơ anh, nói đúng hơn đó là những dòng nhật ký anh viết cho nàng trong những ngày miền nam sắp mất.

Ngày 1 tháng 4

Nghe tin Đà Lạt rơi vào tay Cộng Sản. Mình nghe nhói buốt buồng tim. Không biết cô bé của mình sẽ ra sao đây hở? Làm sao em chịu đựng những bước chân cuồng bạo của bọn vô thần? Em yêu ơi! Em có theo đoàn người di tản hay vẫn bịn rịn gắn bó với nhà, với làng xóm em yêu, với Đà Lạt mà em tự hào xinh đẹp, nên thơ nhất thế giới nên em không nở bỏ đi? Đừng nghe em!.. Hãy mạnh dạn ra đi. Hãy nhớ cho là có anh nơi này đang ngóng đợi.

Ngày 15  tháng 4

Chuẩn uý Lợi vừa trở về đơn vị cho biết, anh ấy đã đến gặp em hôm hai mươi sáu tháng ba, chuyển lời của anh là bất kể thế nào cũng phải di tản nhưng em và gia đình chần chờ chưa quyết định. Anh thấy buồn làm sao. Em còn có lý do gì để mà chần chờ hả em ? Lợi kể cho Anh nghe những gian truân của ảnh  khi đưa được cha già và hai người em nhỏ theo đường đèo Ngoạn Mục, xuống Sông Pha. Đoàn xe quá tải rồng rắn nối đuôi nhau qua đèo Ngoạn Mục. Mọi người chen chúc trên những chiếc xe hàng chật hẹp, có người leo cả lên mui xe. Biết bao hiểm nguy trên đường chạy giặc. Xe chở nặng, đi qua đèo với độ nghiêng thấy mà khiếp .Chỉ cần trật tay  là có thể rớt xuống  đèo như chơi. Xuống được Phan Rang, Lợi và gia đình phải đi thuyền thúng ra tàu lớn mới về được Vũng Tàu, và ...sau hơn nửa tháng mới  trình diện đơn vị. Giờ đây nơi anh đóng quân tình hình rất yên tĩnh, hổm rày Việt Cộng đã ngưng pháo kích. Anh không hiểu sự yên tĩnh khác thường này có hứa hẹn một trận đánh ác liệt sẽ xảy ra hay không nhưng dù sao bọn anh vẫn trong tư thế sẵn sàng ứng chiến...Không biết em giờ này ra sao? Theo dõi đài phát thanh, báo chí  hàng ngày ... Anh đang lo cho em lắm , em biết không?

Ngày 18 tháng  4

Lá thư em gởi cho anh vào ngày một tháng ba,  không biết nó đã đi lang thang đâu đó, giờ mới đến. Anh rất vui dù em viết ngắn quá. Đó là thư em hứa hẹn sẽ về thăm anh. Anh biết anh sẽ không thể nào được đón em trong vòng tay thương yêu này, nhưng anh vẫn hy vọng tình thế thay đổi. Sẽ có biến chuyển. Anh hy vọng và cứ hy vọng. Nơi đây anh vẫn ghì chặt tay súng...chờ quân địch đến. Anh và đồng đội đang sẵn sàng...

Ngày 30 tháng 4

Mấy ngày này liên tiếp thay đổi những vị lãnh đạo Quốc gia, Ông Trần Văn Hương rồi đến  Dương Văn Minh .  Trên làn sóng điện nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Lời tuyên bố của ông như một phát súng bức tử. Thế là hết! Việt nam Cộng Hòa đã bị cáo chung . Một quân đội thiện chiến, anh hùng phải tan hàng rã đám... Trời ơi! Anh phải làm gì đây ??

Tha lỗi cho Anh. Anh không thể chờ em được nữa ...Có thể vĩnh viễn không còn gặp em yêu. Tha lỗi cho anh với những lời hứa mà anh không thể thực hiện được. Lúc nào, và̀ mãi mãi anh vẫn yêu em...Chú cọp của em có lẽ phải xa bầy rồi Liên ạ....

                    X  X  X                   

                   Mới đó mà đã mấy mươi năm trôi qua, biết bao đổi thay trên quê hương khốn khổ của Liên. Cha mẹ Trí đã vĩnh viễn nằm yên trong lòng đất. Anh Hai của chàng đã đi tu. Liên và gia đình được anh Việt bảo lãnh qua Canada, một xứ sở tự do. Vùng đất  xanh mát xinh tươi vào xuân, đẹp rực rỡ vào hạ,  vô cùng lãng mạn vào thu nhưng thật g lạnh vào những ngày đông đến. Vùng đất được mọi người âu yếm gọi “ Đất Lạnh Tình Nồng”. Dù sống trong một đất nước tự do, vật chất đầy đủ. Thế nhưng Liên mãi hoài không quên được Đà Lạt  quê hương nàng.. và tình yêu với người lính mũ nâu ngày nào vẫn in sâu trong lòng cô gái. Liên không lấy chồng, nàng chọn cuộc sống êm đềm của một cô giáo tỉnh nhỏ, yêu thương và chăm sóc các học sinh như yêu chính con mình. Vào mỗi năm đến tháng tư buồn, Liên lặng lẽ đến giáo đường, đốt cho người yêu một ngọn nến...thắp sáng niềm tin. Trí đang ở một nơi thật yên bình, thật hạnh phúc........

                                                           

                                                                                                                                        Forget-me-not Dalat

 

 

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN

Forget Me Not Dalat

Trời chiều nay lành lạnh, không khí mát lạnh tuyệt vời của Đà Lạt dấu yêu. Vân và cậu đi tản bộ trên con đường vòng Lâm Viên. Hôm nay cậu mặc bộ đồ treillis, màu áo trận, trông cậu thật oai hùng! Vân thích cậu mặc thế này hơn là đồng phục sinh viên sĩ quan. Đi bên cạnh cậu, Vân thấy mình thật bé nhỏ. Vân nghịch ngợm cho gót giày khơi nhẹ những lá thông vàng, đá văng xa xa... mùi lá thông khô ngai ngái đáng yêu làm sao! Vân nheo mũi, hít nhẹ mùi hương quen thuộc, nàng cúi xuống lượm một cọng thông trao cậu: "Cậu Tính ơi! Cậu hãy ngửi xem, mùi lá thông dễ yêu ghê chưa? Mai mốt cậu đi xa rồi. Cậu đâu được đi trên thảm lá thông, cậu đâu còn được ngửi mùi thơm quyến rũ này nữa. Phải không cậu?". Thật vậy, chỉ còn không đầy một tháng nữa là cậu ra đi, rời bỏ trường mẹ thân yêu, rời bỏ bạn bè cùng đồng cam cộng khổ. Qua bốn năm rèn luyện kiếm cung, cậu đang chờ ngày hạ sơn thực hiện ước mơ vẫy vùng ngang dọc, thỏa chí mộng làm trai. Cậu sẽ rời bỏ Đồi Bắc lao xao, rời bỏ khu vườn hoa thơ mộng và con đường vòng Lâm Viên kỷ niệm, con đường đã bao lần in dấu chân hai đứa. Vân chợt thấy buồn, nàng rơm rớm nước mắt: "Cậu đi rồi, bao gìờ cậu về thăm lại trường, thăm lại phố núi hở Cậu? "Cậu ngậm ngùi: "Làm sao Cậu biết được. Cậu chọn "bộ binh", trở ra Vùng Hai Chiến Thuật. Cuộc chiến càng ngày càng sôi động. Cậu đâu biết được ngày trở về." Chợt cậu choàng tay ôm nhẹ bờ vai Vân thì thầm: "Hứa với cậu, phải thường xuyên thư cho cậu nghe. Cậu sẽ viết cho em ngay khi cậu đến đơn vị." Vân thoáng rung động, kể từ lúc quen cậu đến nay, đây là lần đầu tiên cậu có cử chỉ thân thiện với Vân như vậy. Vân nói đùa: "Phải xem biểu hiện của cậu rồi mới tính... có nên trả lời thơ cậu hay không đây? ".

 

Tối hôm cậu ra trường, Vân theo Hà "cô cháu thật sự của cậu" vào trường dự lễ truy điệu. Đêm tối, trời lộng gió, gió từ Lâm Viên kéo về, thỉnh thoảng gíó rít từ ng cơn, lay động những hàng thông bao quanh khuôn viên trường làm Vân thấy rờn rợn. Lời cô xướng ngôn viên vang lên, âm thanh buồn thê thiết "Lúc bấy giờ trên cánh đồng chiêm Bắc Việt, hay trên rạch nước Đồng Nai... ."bài Chiêu Hồn cất lên ai oán, kế đó nhạc trỗi bài "Hồn Tử Sĩ". Vân nhắm mắt lại, cả một trang sử oai hùng của dân Việt diễn ra. Từ thời vua Hùng dựng nước cho đến ngày nay, đất nước Việt đã trải qua biết bao thăng trầm. Biết bao anh hùng tử sĩ đã đổ nhiều xương máu để giữ gìn và bảo vệ mảnh non sông gấm vóc này. Họ đã hy sinh thân mình, mang yên vui đến cho mọi ngừơi, không tiếc gì thân sống. Đêm nay, họ cùng về đây chứng giám, nhận lòng biết ơn sâu xa từ những đứa con yêu. Ngày mai đây, đoàn con yêu sẽ nối gót cha anh lên đường làm phận sự bảo vệ quê hương. Cầu xin các bậc tiền nhân, cầu xin hồn thiêng sông núi, giữ gìn, bảo vệ cho các anh bình yên... đối đầu với giặc ngoài chiến trường, vững tin vào chính nghĩa.

 

Sáng sớm hôm sau, ngày cậu chính thức ra trường. Vân và Hà cũng được mời tham dự đại lễ Mãn Khóa. Vũ Đình Trường hôm nay thật đông quan khách. Đa số là thân nhân và bạn bè các tân binh, ngoài ra còn có các đoàn thể, các hội đoàn, trường học... . trong thành phố, kể cả trường Vân cũng có đại diện trường đến tham dự. Mười tám phát súng đại bác được bắn lên, vang dội núi rừng. Buổi lễ được bắt đầu. Cả hội trường im phăng phắc khi Ban quân nhạc của trường trỗi lên bản Quốc Ca, rồi một phút mặc niệm anh hùng, chiến sĩ đã bỏ mình vì Tổ Quốc. Điều làm Vân thán phục nhất là được theo dõi các sinh viên sĩ quan diễn hành, duyệt binh trong buổi lễ. Đội ngũ chinh tề, đẹp mắt. Ban quân nhạc với dàn kèn, trống, trình diễn thật điêu luyện, tuyệt vời. Những bản hùng ca, những khúc quân hành làm nức lòng người. Khi đại đội cuả cậu đi ngang qua khán đài, Vân dóng người lên, tìm kiếm trong đoàn quân hình dáng cậu nhưng "giữa chốn ba quân" chàng nào cũng giống nhau, Vân đành chào thua cuộc. Kết thúc diễn hành, các sinh viên sĩ quan biểu diễn những động tác thao diễn, bồng súng, dàn chào... thật ngoạn mục và rồi... quãng trường vang dội tiếng vỗ tay hoan hô khi đội diễn hành xếp thành hàng chữ VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM thẳng tắp, đẹp như có một bàn tay khổng lồ dùng viết nắn nót những dòng chữ rắn rỏi đẹp mắt ngần ấy. Sau buổi diễn binh, sinh viên thủ khoa lên nhận cung tên, bắn đi bốn phương trời với niềm tin các con từ trường mẹ sẽ đi bốn phương tám hướng, thỏa chí mộng làm trai. Các anh sẽ mang tài sức mình phụng sự đất nước, giữ gìn, bảo vệ mảnh đất xinh đẹp mà cha ông đã truyền lại. Mọi người yên lặng. xúc động theo dõi giây phút thiêng liêng ấy, giây phút đưa người sinh viên sĩ quan chính thức bước vào đời quân ngũ. Cuộc đời đầy chông gai nhưng kiêu hùng, bất khuất. Cuộc đời đầy bất trắc, hiểm nguy nhưng rất đáng cho mọi người nể phục, tự hào. Vân chợt nghĩ đến những câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm – Chàng từ đi vào nơi gió cát... . Vân sắt se buồn khi nghĩ đến ngày mai cậu sẽ ra đi. Vâng, cậu cuả Vân đang đi vào nơi gió cát ấy...

 

            Tan buổi lễ, cậu vội vàng đến lễ đài gặp Vân, anh Lâm cũng đến ngay tìm Hà, hai chàng thong thả dẫn bọn Vân vào hội quán. Hội quán hôm nay thật đông người, các tiếp viên bận tíu tít. Để cho hai chàng lựa chọn thức ăn. Vân và Hà ngồi chống cằm, lơ đãng nhìn quanh mình mà cảm thấy buồn rượi. Mai này, làm gì Vân có dịp vào đây nhâm nhi bánh paté chaud, thưởng thức cái vị ngọt ngọt, chua chua của ly trà Lipton...? Ngồi đây, Vân còn được nhìn ra thung lũng xa xa ngoài kia, cả một lòng thung ngan ngát thông xanh, điểm trang cho quân trường nổi tiếng to lớn và xinh đẹp này. Cậu lên tiếng lôi Vân ra khỏi những suy nghĩ mông lung: "Vân phải nhớ tối nay đến tham dự dạ vũ nghe." Vân dùng dằng: "Đã nói là em không biết nhảy mà... " – "Không sao, cậu sẽ là sư phụ của em tối nay. Cậu muốn là người đầu tiên dìu em theo tiếng nhạc.” 

 

              Tối đến, bọn Vân trang điểm cho nhau. Cả nửa tiếng đồng hồ tô tô, vẽ vẽ Hà lên tiếng tự hào: "Bảo đảm tối nay mi đẹp ác luôn, tha hồ cho ông cậu tau lác mắt." Vân cũng không kém, tự khen tài mình: "Đêm ni, ông Lâm không khen mi đẹp tao bỏ nghề trang điểm luôn". Hà cười vang: "Thôi đi o, mèo khen mèo dài đuôi. Nhanh chân lên không đến trễ chừ ." 

 

Quan khách tham gia vũ hội, đã được trường cho xe đón ở khu Hòa Bình. Tất cả mọi việc, họ đều tổ chức rất chu đáo, nhịp nhàng. Lên xe, theo đoàn người vào dự dạ tiệc, hai đứa thật hồi hộp, lúng túng, vì đây là lần đầu tiên được tham dự. Cậu và anh Lâm đã đứng chờ ở cổng. E ấp bên cậu, xúng xính trong chiếc robe mới, Vân theo cậu vào phòng hội. Đêm nay có thức ăn nhẹ, có champagne nổ lốp đốp reo vui. Ngồi bên cạnh cậu, trước buổi chia tay, Vân nghe lòng mình chùng xuống. Cậu thủ thỉ bên nàng, gịong cậu ấm áp ngọt ngào: "Hôm nay Vân đẹp lắm, em biết không? " Lòng Vân reo vui. Hạnh phúc bao quanh nàng. Cùng với niềm vui nàng vừa nhận được, ban nhạc bắt đầu chuyển sang điệu valse với bản Dòng Sông Xanh” ...  vài cặp dìu nhau ra sàn nhảy. Đợi đến khi, ban nhạc chuyển sang điệu slow cậu mới kéo tay Vân đứng dậy: "Cậu ơi! Em ngại quá!  " Cậu trấn an: "Đừng  sợ, có cậu đây mà." Những giây phút ngại ngần qua đi... Vân bước dễ dàng theo điệu nhạc, tay trong tay, nàng dựa đầu vào bộ ngực ấm áp cuả chàng. "Vân ơi, giờ sắp xa em, cậu mới thấy nuối tiếc, sao mình không dành nhiều thời gian cho em hơn." 

 

"Chỉ vậy là đủ rồi, em không muốn gặp cậu nhiều, để cậu đi rồi... làm em nhớ nhiều hơn". Buổi dạ vũ kéo dài đến gần nửa đêm, bọn Vân được anh Lâm và cậu đưa về. Đêm nay, nàng thấy mình thật hạnh phúc.

 

            Cậu ở lại Đà Lạt thêm vài hôm, chào từ giã bà con bạn bè, viếng thăm vài thắng cảnh xa xa của Đà Lạt mà cậu chưa có dịp đến. Sau đó, cậu thu dọn hành trang lên đường. Lá thư đầu tiên cậu viết cho Vân từ nhà cô cháu gái: 

 

"Em,

Anh đã về đến Đà Nẵng chiều nay. Nhớ em quá. Cho Anh bỏ cái chức"cậu"bất đắc dĩ này nghe em,  ở quê anh có một bài vè, trong đó có câu: "Cậu mậu cường... " Em có biết câu kế tiếp không? Bí mật, lúc nào gặp lại, anh sẽ nói cho nghe. Chừ , em đang làm gì nơi đó? Anh biết em đang bận nhiều với bài vở nhưng hãy bỏ một tí thời giờ để nhớ đến anh nha. Sáng mai, anh sẽ ra thăm mộ ba mẹ, anh sẽ nói với ba mẹ rằng: "Con đã gặp được người mà con thương yêu rồi ba mẹ ạ." Em có chịu làm dâu của ba mẹ anh không?

Thật nhớ em.

Anh." 

 

Thật vui khi nhận thư chàng... Vân chỉ viết vài dòng thư gởi lại: 

 

"Cậu ơi,

Cậu muốn xưng hô với em thế nào cũng được nhưng em chỉ muốn gọi Cậu là"cậu" thôi. Em vẫn chăm chỉ học và... không thèm nhớ cậu.

Em" 

 

              Rồi thư đi từ lại, niềm thương nhớ được cậu trải dài trong những cánh thư, khi thì viết ở hậu cứ tiểu đoàn, lúc thì viết ở vùng hành quân, những lá thư cậu viết thật dài, gom biết bao mong nhớ, có những lúc thiếu giấy cậu phải dùng cả giấy bao thuốc lá để viết cho nàng. Đọc thư cậu Vân lại càng thương yêu hơn, hiểu nhiều hơn đời sống gian khổ của những người lính. Những tháng ngày hồn nhiên vô tư của nàng đã có thêm niềm âu lo, nhung nhớ. Vân thường xuyên theo dõi báo chí, đài phát thanh... Ngày xưa mở một tờ báo ra là Vân tìm trang văn nghệ, kịch trường đọc trước còn bây giờ, chính những bản tin chiến sự mới làm Vân quan tâm, hồi hộp theo dõi. Đêm từng đêm theo dõi ánh hỏa châu rơi, nghe đại bác vọng về từ xa mà thương nhớ cậu. Ngày nào Đà Lạt của nàng thật bình yên, gì cũng đã nhuộm màu chiến tranh. những vùng ven, phía bên kia đã về vào ban tối, mang những lo âu, sợ hãi đến cho mọi nhà. Trong đêm tối âm thầm, nàng đã cầu nguyện, cầu nguyện cho đất nước hết chiến tranh, cầu cho cậu bình yên nơi vùng lửa đạn.

 

       Trong lúc ở thành phố, Vân lo sợ khôn nguôi thì ở chiến trường cậu vẫn miệt mài tay súng, vẫn tin có một ngày mai tươi sáng... vẫn mơ ước có một gia đình ấm êm, hạnh phúc. "Cô bé ơi, kỳ về phép tới, anh sẽ về thưa với ba mẹ về chuyện chúng mình. Anh muốn chúng mình tổ chức đám cưới trước ngày em tốt nghiệp. Anh rất muốn, những lúc từ chiến trường trở về, có em đón anh trong vòng tay ấm. Anh ích kỷ quá phải không em? Nhưng hiểu cho... bởi tại... thương em nhiều quá." 

 

        Năm cuối bậc Trung học của Vân cũng đã qua đi. Sự gắng công đèn sách đã được đền bù. Vân đã lấy xong Tú Tài phần hai, rồi thi đậu vào sư phạm. Cậu hứa trở về thăm cũng có về được đâu? Vân hiểu vì sao cậu chậm trễ... và vẫn chờ đợi.  Rồi một hôm, Vân nhận điện tín do cô cháu cậu đánh vào: "Chị ra gấp. Cậu bị thương nặng. Cháu Điệp." Cầm điện tín trên tay, Vân lặng người lo sợ. Nàng xin phép ba mẹ rồi thu xếp ra Đà Nẵng ngay. Điệp ra đón Vân ở phi trường. Cô bé mếu máo: "Cậu mê man mấy ngày ni, em lo quá chị ơi" rồi hai chị em ôm nhau khóc. Điệp cho nàng biết: "Đơn vị báo cáo, cậu bị thương trong một trận đánh ở Quế Sơn. Hai bên đánh xáp lá cà, một quả lựu đạn nổ gần, tung cậu ra xa... rất may là chưa lấy mạng cậu. Người ta chở ngay vào Quân y viện Đà Nẵng. Khi Điệp và Đăng đến gặp cậu, cả người cậu băng đầy vải, chỉ khuôn mặt là tương đối lành lặn. Mấy hôm nay hai chị em thay phiên nhau vào với cậu, tụi em lo lắm mới đánh điện gọi chị." Đến bệnh viện, Vân đi nhanh đến phòng cậu, cậu vẫn mê man trên giường bịnh. Cầm tay cậu Vân nghẹn ngào: "Cậu ơi. Hãy tỉnh lại đi. Đừng làm em sợ.” Ngồi bên cạnh cậu, lo âu theo dõi... Những giọt nước từ bình nước biển nhỏ giọt đều đều... mỗi giọt, mỗi giọt... chuyền thêm sinh lực cho cậu, chuyền thêm nguồn sống cho người nàng yêu. Vân van vái Trời Phật giúp cậu tai qua, nạn khỏi. May mắn thay, đến ngày thứ tư là cậu tỉnh lại. Kể làm sao hết nỗi vui mừng  của Vân, Cậu của Vân đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Cảm ơn Trời Phật đã nghe được lời khấn nguyện cuả Vân. Cám ơn các bác sĩ, y tá đã làm hết sức mình, kéo cậu từ Tử Môn Quan về cho Vân. Những ngày ở bịnh viện, Vân mới thấy rõ sinh mạng con người quý giá đến ngần nào! Mười ngày sau, cậu được xuất viện, về dưỡng bệnh ở nhà Điệp. Cậu đã đi lại được dù hơi khó khăn. Tội nghiệp cô bé Điệp. từ ngày cậu bịnh đã tất bật suốt ngày, tan sở là ghé chợ mua thực phẩm về nấu nướng, bồi dưỡng cho cậu mau hồi phục sức khoẻ. Ba mẹ mất sớm, ba cậu cháu nương tưa ̣ vào nhau, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Lúc cậu chọn vào Võ Bị, biết con đường binh nghiệp nhiều gian truân, chị em Điệp vẫn không ngăn cản, để cậu thực hiện lý tưởng cuả mình, theo đuổi con đường mà cậu yêu thích.

 

Ở lại Đà Nẵng thêm vài hôm, Vân phải về Đà Lạt để đi học tiếp. Ngày chia tay, Vân ôm chặt cậu, nước mắt lăn dài "Cậu vào thưa với ba mẹ em đi. Em muốn được về gần bên cậu, săn sóc cậu. Em phập phồng lo sợ khi xa cậu." Cậu dịu dàng vuốt tóc Vân: "Nhưng Vân biết không? Anh có thể sẽ không làm tròn trách nhiệm cuả một người chồng. Trong lần bị thương này, anh đã mất đi một quả thận. Có thể anh sẽ không có con nữa đâu. Em có chấp nhận anh không? " Vân vội bịt miệng cậu: "Em không sợ, em chỉ muốn ở bên cậu, cậu đi đâu em theo đó." 

 

Một thời gian sau, cậu trở lại chiến trường, lại dũng cảm chiến đấu, đối đầu với giặc không ngại hiểm nguy, không hổ danh là một sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị. Sau những chiến thắng tới tấp của tiểu đoàn, cậu được lên lon, lại được phép về thăm Đà Lạt, xin ba mẹ Vân được cưới nàng, đám cưới được tổ chức thật đơn giản trong vòng thân thuộc họ hàng. Đêm tân hôn cô nàng bắt chồng trả lời câu kế tiếp của bài vè "Cậu mậu cường... " Cậu khúc khích trả lời: "Cậu mậu cường, rúc xuống giường... hết cậu". Đúng là "hết biết" ông cậu quá quắt này!.

 

             Một năm sau, bé Khanh ra đời, cậu bé thật dễ thương, giống y như bố nó. Vừa hành quân trở về, nghe tin vợ đã sanh. Tính lái xe như bay về gặp vơ con. Ôm chặt Vân trong vòng tay, cậu rối rít: "Cám ơn Trời Phật đã cho mẹ tròn con vuông. Cám ơn em đã cho anh một chú lính con, bụ bẫm đẹp trai... đẹp trai như anh vậy." Vân đùa với chồng: "Bây giờ cậu đã hết lo âu về quả thận mất đi của cậu, cứ sợ không có con, nếu có con thì sợ con mình... ." Cậu cười vang: "Anh biết rồi... " Vừa nói cậu vừa hôn tới tấp lên đôi má phinh phính của thằng bé. Nhìn chồng con, Vân mỉm cười sung sướng. Nàng thầm cám ơn ơn trên đã cho nàng niềm vui bên gia đình, bên chồng con.

 

Ngoài kia, nắng lên xôn xao. Nắng chan hòa lên cỏ cây, hoa lá. Vân thấy thật yêu đời. Vân thấy mình thật hạnh phúc...

 

Forget Me Not Dalat